Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VIỆC DOI MỚI TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÁC HỢP TÁC XÃ 1. HỢP TÁC XÃ - SAN PHẨM TẤT YẾU KHÁCH QUAN CUA NỀN SAN XUẤT HÀNG HÓA - NHUNG DAC ĐIỂM VỀ TỔ CHỨC, QUAN LÝ HOP TÁC XÃ TRONG CƠ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Tính tat yeu khách quan của sự hợp tác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Hoạt động sản xuất là đặc trưng riêng có của con người và xã hội loài người. Do bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội nên hoạt động sản xuất của con người mang tính xã hội.
Những cuộc phân công lao động xã hội trong lịch sử có một ý nghĩa quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất. Nó không những tạo tiền dé cho quá trình chuyên môn hóa cao độ mà đồng thời còn làm xuất hiện nhu cầu liên kết, hợp tác giữa những người lao động với nhau trong hoạt động sản xuất. Về vấn đề này Mác đã khẳng định: Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ chặt chẽ với nhau va chỉ có trong phạm vi những mối liên hệ và quan hệ đó thì mới có sự tác động của họ vào giới tự nhiên, tức là sản xuất [44, tr.
Quá trình chuyên môn hóa trong sản xuất đã làm xuất hiện các ngành nghề, tăng cường nhu cầu trao đổi, mua bán sản phẩm và tạo tién dé cho sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa. Sự hợp tác trong quá trình sản xuất tiếp tục điển ra một cách mạnh mẽ trong hoạt động kinh doanh. Theo Luật ay A) Doanh nghiệp (1999): "Kinh doanh là việc thực hiện mội, một số hoặc tất ca các công đoạn của quá trình dau tư, từ san xuất đến tiêu thụ san pham hoạc cung ứng dich vụ trên thị trường nhằm mục dich sinh loi" (Khoản 2, Điều 3). Với nội ham rộng lớn này, có thể khẳng định rang: quá trình kinh doanh bao gồm hàng loạt các mối quan hệ dan xen, chang chit; từng khâu, từng công đoạn của quá trình kinh doanh có quan hệ nhân quả, quyết định Jan nhau bởi thị trường là thống nhất và kinh doanh là một chu trình mở.
Do đó, sự hợp tác trong quá trình kinh doanh là một nhu cầu tự thân. Như vậy, sự hợp tác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh là một tất yếu khách quan và là một trong những hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất. Nó được thiết lập trong mọi phương thức sản xuất của xã hội loài người. Do tác động của nhiều yếu tố chủ quan cũng như khách quan, các quan hệ hợp tác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh được thiết lập dưới nhiều hình thức khác nhau về tính chất, mức độ và nội dung.
Mục tiêu đơn giản nhất và khái quát nhất của sự hợp tác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh là: sự phối hợp với nhau nhằm đạt một hiệu quả kinh tế cao hơn là không hợp tác. Hiệu quả kinh tế này quyết định nội dung, cách thức và mức độ của sự hợp tác. Nó có thể được diễn ra trong một hoặc nhiều công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh và xét đến cùng thì bản chất của mọi sự hợp tác này được dựa trên hai yếu tố: tiền vốn hoặc con người. Từ đó mà hình thành các cấp độ khác nhau về mục tiêu của sự hợp tác, như: hợp tác để đủ sống, hợp tác để làm giàu, hợp tác để cạnh tranh và hợp tác để độc quyền.
Tương ứng với các mục tiêu đó, trên thực tế đã xuất hiện các hình thức cụ thể của sự hợp tác như: tổ hợp tác, các nhóm kinh doanh, các hợp tác xã và các loại hình công ty (công ty đối nhân hoac công ty đối vốn). Không chỉ trong nền sản xuất tự cấp, tự túc hay sản xuất hàng hóa giản đơn ma ngay ca trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam cũng như trên 16 thế giới luôn ton tại những quan hệ hợp tác giản don, theo vụ việc dưới các hình thức: tô hợp tác. tô đối công, tô vần công v. Kiểu hợp tác này theo pháp luật Việt Nam thường là khóng có tư cách pháp nhân, được điệu chính theo Bộ luật Dân sự.
Theo đó, các tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác, có chứng thực của Ủy ban nhân dan xã, phường, thị trấn; có từ 3 người trở lên, cùng góp tài sản, công sức để thực hiện các công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm dân sự, là chủ thể của các quan hệ dân sự theo nội dung và thời hạn của hợp đồng hợp tác. Sự hợp tác nay là tiền dé dẫn đến việc thành lập các công ty đối nhân. Thành viên của các công ty này là những người quen biết, tin cậy lần nhau như anh em, họ hàng, bạn bè thân thiết. Đặc điểm của công ty đối nhân là: không có tư cách pháp nhân, không có sự tách bạch về tài sản cá nhân thành viên công ty với tài sản của công ty, các thành viên liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty (công ty hợp danh) hoặc ít nhất có một thành viên (thành viên nhận vốn) chịu trách nhiệm vô hạn (công ty hợp vốn đơn giản).
Ở nước ta trước đây, theo Nghị định 66 - HDBT ngày 2/3/1992, kiểu công ty này được gọi là nhóm kinh doanh. Theo Luật Doanh nghiệp (1999) đây là các công ty hợp danh - một loại công ty đối nhân điển hình. Trong nền kinh tế thị trường, để các giao lưu dân sự - kinh tế được thiết lập một cách an toàn và ổn định, các chủ thể kinh tế thường tiến tới thiết lập quan hệ hợp tác một cách chặt chẽ, có tổ chức dưới hình thức các công ty đối vốn. Các công ty đối vốn có đặc điểm cơ bản là có tu cách pháp nhdn, chịu trách nhiệm bang tài sản riêng của công ty, các thành viên của công ty chỉ chịu trách nhiệm trong pham vi phần vốn góp.
Công ty cổ phần là loại công ty đối vốn điển hình. Với ưu điểm nổi bật là khả nang tập trung vốn để mở rộng quy mô Kinh doanh tạo thé đứng vững trên thị trường và phân tan rủi ro trong nen Kinh tế thị trường, các công ty đã đáp ứng được yêu cầu của nhiều nhà kinh doanh cũng như những người có von nhưng khong có kha nang kinh doanh. Các công ty (công ty thương mại) là sự liên kết của hai hay nhiều người (hoặc tô chức) góp vốn thành lập để kinh doanh với mục đích kiếm lời. Hợp tác xã là một kiểu hợp tác, liên kết khác của những người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức nhằm phát huy sức mạnh của tập thể, giúp nhau thực hiện một cách có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Đây vừa là một tổ chức kinh tế, vừa là một tổ chức xã hội. Nó được thành lập nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích của người lao động; đồng thời nó là một hiệp hội của những người cùng nghề nghiệp, cùng cảnh ngộ liên kết lại để giúp đỡ nhau. Hợp tác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh là một quy luật, là một phương thức làm ăn. Nó đối lập với kiểu làm ăn cá thể, riêng lẻ mà biểu hiện cụ thể là nó tạo lập nên một tài sản chung để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức đó.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin thì, quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng nó được hình thành một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan. Mác viết: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định. tất yếu không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của ho" [46, tr.
Hợp tác xã là sản phẩm của nền sản xuất hàng hóa đã phát triển đến một trình độ nhất định trên cơ sở phân công lao động xã hội phát triển và chuyên môn hóa sản xuất. Trong đó đại bộ phận hoặc toàn bộ sản phẩm đều trở thành hàng hóa đem trao đối trên thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Theo đà phát triển của kinh tế hàng hóa, quy mô sản xuất ngày càng mo rộng, trình độ xã hội hóa sản xuất ngày càng cao thì quá is ¬ | trình san xuất ngày càng liên hệ và phụ thuộc lan nhau một cách hữu cơ. Nó làm nay sinh yeu cau hợp tác lao động và cung ứng dich vụ các loại và tao tien dé cho sự ra đời và phát triển của hợp tác xã.
Quá trình hình thành và phát triển của phong trào hợp tác xã tren thé giới - Cac mô hình hợp tác xã Lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã ghi nhận sự xuất hiện của một hình thức tổ chức trong hoạt động san xuất vào cuối thế ky XIX tại nước Anh. Đó là hợp tác xã tiêu dùng của 28 người thợ dét ở thị trấn Rochdale được thành lập vào năm 1844. Mục tiêu của họ là nhằm mua được hàng hóa rẻ hơn và có chất lượng tốt hơn so với hàng hóa của các cửa hiệu tư nhân, thi hành các biện pháp để nâng cao lợi ích vật chất, cải thiện địa vị của xã viên và đời sống gia đình của họ. "Hội của những người khởi xướng về sự công bảng ở Rochdale” còn đề ra một loạt nguyên tắc và phương pháp kinh doanh của hợp tác xã.
Tác dụng thực tê của hợp tác xã tiêu dùng Rochdale đã thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt hợp tác xã tiêu dùng ở nước Anh. Đến đầu thập kỷ 60 của thế ky XIX, ở nước Anh đã có 460 hợp tác xã tiêu dùng với 100. Tiếp sau đó phong trào hợp tác xã đã lan rộng sang các nước châu Âu và đặc biệt phát triển mạnh mẽ ở Pháp, Đức, Hà Lan và Dan Mach. Vì sao phong trào hợp tác xã lại xuất phát từ nước Anh và phát triển mạnh mẽ trước hết ở những nước này? Từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế ky XVIII đã diễn ra thời kỳ quá độ từ Chủ nghĩa phong kiến sang Chủ nghĩa tư bản.
Đó chính là giai đoạn chuyên nền kinh tê hàng hóa giản đơn sang nền kinh tế thị trường.