Tổng quan luận án
Công cuộc đổi mới kinh tế do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ cuối thập kỷ 80 và được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 đã xác lập nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, khu vực hợp tác xã (HTX) – vốn là một trong hai thành phần kinh tế cơ bản của mô hình kế hoạch hóa tập trung kéo dài gần 40 năm – rơi vào tình trạng khủng hoảng và suy giảm nghiêm trọng. Số liệu thực tế cho thấy, vào thời kỳ cao điểm năm 1987, cả nước có khoảng 33.000 hợp tác xã với hàng triệu lao động; đến năm 1990 giảm xuống còn 13.000 và đến năm 1991 tiếp tục giảm sâu. Tính đến năm 1991 so với năm 1987, khu vực kinh tế tập thể đã giảm 70% số cơ sở và 72% số lao động. Nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, Luật Hợp tác xã năm 1996 được ban hành, tạo hành lang pháp lý cho việc chuyển đổi và tổ chức lại hoạt động của HTX. Tuy nhiên, qua 4 năm triển khai thi hành, việc áp dụng luật vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc, lúng túng về mặt pháp lý và tổ chức thực hiện. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề pháp lý về tổ chức và quản lý hợp tác xã là yêu cầu cấp thiết.
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Những vấn đề pháp lý về đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã" được tác giả Trần Thị Thơ thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Kinh tế, năm 2001) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Trần Ngọc Đường và TS. Hoàng Thế Liên.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề pháp lý về đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã; từ đó góp phần giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc thực hiện chế định về tổ chức và quản lý hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 1996.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của hợp tác xã trên thế giới và ở Việt Nam; phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về hợp tác xã; nghiên cứu lịch sử lập pháp Việt Nam kết hợp so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và pháp lý của việc đổi mới tổ chức, quản lý hợp tác xã.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá quá trình thi hành Luật Hợp tác xã năm 1996 qua 4 năm triển khai thực tế, chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong việc tổ chức lại, quản lý nhà nước và quản lý nội bộ hợp tác xã; từ đó đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm hoàn thiện chế định pháp luật về tổ chức và quản lý hợp tác xã ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý hợp tác xã dưới góc độ khoa học pháp lý, trọng tâm là chế định pháp lý về tổ chức và quản lý hợp tác xã.
Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung làm rõ hai nội dung cơ bản:
- Đổi mới quản lý nhà nước đối với hợp tác xã.
- Đổi mới tổ chức và quản lý nội bộ hợp tác xã.
Thời gian và không gian nghiên cứu bao quát quá trình phát triển của phong trào hợp tác xã tại Việt Nam từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung đến thời kỳ đổi mới, trọng tâm là giai đoạn 4 năm triển khai thi hành Luật Hợp tác xã năm 1996 (1996 - 2000/2001).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Hợp tác xã là đối tượng nghiên cứu liên ngành gắn liền với các khía cạnh lịch sử, chính trị, kinh tế và xã hội. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các công trình nghiên cứu về hợp tác xã ở Việt Nam chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế - xã hội, tiêu biểu như:
- "Hợp tác xã và thời vàng son của kinh tế gia đình" (Trần Đức, Nxb Tư tưởng văn hóa, Hà Nội, 1981);
- "Chống quan liêu, bao cấp trong hợp tác xã và tập đoàn sản xuất" (Vũ Trọng Khải, Nguyễn Thế Văn, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1986);
- "Tổ chức và quản lý hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp" (Phạm Đắc Duyên, Trần Hải Hiệp, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987);
- "Hoàn thiện khoán sản phẩm thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa trong hợp tác xã nông nghiệp" (Hữu Thọ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989);
- "Đổi mới mô hình hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở huyện An Lão - Hải Phòng" (Lê Đình Thắng, Đoàn Văn Dân, Ngô Đức Cát, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995);
- "Khảo sát các hình thức tổ chức hợp tác của nông dân nước ta hiện nay" (Đào Thế Tuấn chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995).
Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới và tiến tới ban hành Luật Hợp tác xã năm 1996, xuất hiện thêm các đề tài khoa học và tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế hợp tác:
- Đề tài KX.15: "Luận cứ khoa học về đổi mới tổ chức, hoạt động và quản lý hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường ở nước ta" (Hà Nội, 1995, do PGS.TS. Nguyễn Quang Quynh làm chủ nhiệm);
- "Phát triển và đổi mới quản lý hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã" (Hà Nội, 1997, PGS.TS. Nguyễn Văn Bích);
- "Kinh tế hợp tác - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Hà Nội, 1998, Hội đồng Trung ương Liên minh các hợp tác xã Việt Nam).
Dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành, một số luận văn cao học đã bước đầu tiếp cận các khía cạnh riêng lẻ của hợp tác xã:
- "Những vấn đề pháp lý về đổi mới hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp tập thể" (Nguyễn Đức Long, 1996);
- "Chế độ pháp lý xã viên hợp tác xã - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nguyễn Thị Ngọc Hà, 1997);
- "So sánh Luật Hợp tác xã ở một số nước trên thế giới" (Phan Hùng Dũng, 1997);
- "Một số vấn đề pháp lý cơ bản trong quá trình chuyển đổi hợp tác xã" (Hoàng Thị Vinh, 1999).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Hầu hết các công trình trước đó chỉ nghiên cứu hợp tác xã dưới góc độ kinh tế - xã hội hoặc chỉ dừng lại ở một số khía cạnh pháp lý đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về việc đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã dưới góc độ pháp lý theo Luật Hợp tác xã năm 1996. Do đó, đây là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam giải quyết chuyên sâu chế định pháp lý về tổ chức và quản lý hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống pháp luật của Nhà nước về tổ chức và quản lý hợp tác xã. Bên cạnh đó, luận án tiếp thu các lý thuyết kinh tế và pháp lý về tổ chức hợp tác, bao gồm lý luận của A. V. Chayanov (Traianốp) về vai trò phụ trợ của hợp tác xã đối với kinh tế hộ nông dân tự chủ, lý luận của I. V. Emelianov (Emêlianốp, 1942) về bản chất hợp tác xã là tập hợp các xí nghiệp độc lập chứ không phải là xí nghiệp tập thể hòa tan thành viên, cũng như định nghĩa và 7 nguyên tắc hợp tác xã do Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) thông qua tại Đại hội lần thứ 31 ở Manchester năm 1995.
Về phương pháp nghiên cứu, công trình thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng, sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết làm chủ đạo:
- Phương pháp luận nền tảng: Sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt chú trọng lý luận về hình thái kinh tế - xã hội và quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để lý giải sự vận động của các mô hình hợp tác xã.
- Phương pháp tiếp cận lịch sử: Bao gồm sưu tầm, phân tích và tổng hợp tư liệu từ các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ và các tài liệu khoa học để tái hiện quá trình tổ chức, quản lý hợp tác xã trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, giải thích nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng mô hình cũ.
- Phương pháp so sánh:
- So sánh nội tại: Phân tích sự khác biệt về tổ chức và quản lý hợp tác xã tại Việt Nam giữa hai cơ chế quản lý (cơ chế kế hoạch hóa tập trung và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa).
- So sánh quốc tế: So sánh chế định tổ chức và quản lý hợp tác xã của Việt Nam theo Luật Hợp tác xã năm 1996 với pháp luật hợp tác xã của các nước trên thế giới (Thụy Điển, Canada, Cộng hòa Liên bang Đức, Indonesia, Philippines...) để rút ra các giá trị tương đồng, khác biệt và kinh nghiệm lập pháp phù hợp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm các văn kiện Đảng, Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự, Luật Hợp tác xã năm 1996, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, các nghị định quy định điều lệ mẫu của Chính phủ năm 1997, cùng số liệu thống kê thực tế được công bố trong các báo cáo tổng kết 4 năm thi hành Luật Hợp tác xã.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có dung lượng 165 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính được kết cấu thành 3 chương và 8 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã
Chương 1 tập trung làm rõ tính tất yếu khách quan của sự hợp tác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự phân hóa giữa các hình thức hợp tác trong nền sản xuất hàng hóa. Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999, kinh doanh là chu trình đầu tư, sản xuất và tiêu thụ mang tính liên hoàn, đòi hỏi sự hợp tác tự thân. Tùy thuộc vào việc dựa trên yếu tố tiền vốn hay con người mà hình thành các hình thức: tổ hợp tác (hoạt động theo hợp đồng hợp tác có chứng thực của UBND cấp xã theo Bộ luật Dân sự), công ty đối nhân (công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 1999, trước đây là nhóm kinh doanh theo Nghị định 66-HĐBT năm 1992), công ty đối vốn (công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp) và hợp tác xã.
Tác giả phân tích lịch sử phong trào hợp tác xã thế giới từ sự ra đời của HTX tiêu dùng Rochdale (Anh) năm 1844 với 28 xã viên thợ dệt, sự phát triển lên 460 HTX tiêu dùng vào đầu thập niên 1860, sự thành lập Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) ngày 19/8/1895 tại London với 10 quốc gia ban đầu, và việc công nhận cờ màu cầu vồng là biểu tượng năm 1896. Phong trào đã mở rộng tới gần 700 triệu thành viên tại 82 quốc gia. Luận án chỉ ra sự tồn tại của hai mô hình HTX cơ bản trên thế giới thông qua bảng so sánh tổng hợp:
| Tiêu chí so sánh |
Mô hình Hợp tác xã - Tập thể hóa |
Mô hình Hợp tác xã - Hợp tác hóa |
| Môi trường tồn tại |
Là sản phẩm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung thuộc các nước xã hội chủ nghĩa (13 nước, hơn 200 triệu thành viên). |
Là sản phẩm của các nước phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường (trên 100 nước, gần 700 triệu thành viên). |
| Vị trí các loại hình HTX |
Các hợp tác xã sản xuất tập trung chiếm đa số; hợp tác xã mua bán, tín dụng giữ vị trí khiêm tốn. |
Các hợp tác xã dịch vụ phát triển mạnh mẽ; loại hình hợp tác xã sản xuất nông nghiệp chiếm số lượng ít, quy mô nhỏ. |
| Quan hệ sở hữu |
Tiến hành tập thể hóa ruộng đất và tư liệu sản xuất chủ yếu; xã viên từ hữu sản thành vô sản; không thừa nhận sở hữu cá nhân. |
Không tiến hành tập thể hóa; xã viên là chủ sở hữu tư liệu sản xuất và tư liệu lao động; thừa nhận sở hữu cá nhân. |
| Quan hệ tổ chức, quản lý |
Tập thể Ban quản trị lãnh đạo theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xóa bỏ kinh tế hộ, sản xuất tập trung. |
Là quan hệ chỉ huy, coi trọng sự quyết đoán của người đứng đầu; duy trì, hỗ trợ và phục vụ kinh tế hộ gia đình tự chủ. |
| Quan hệ giữa xã viên và HTX |
Quan hệ phụ thuộc; xã viên là người lao động hưởng thù lao làm công trong hợp tác xã. |
Quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa hai chủ thể kinh tế; xã viên làm chủ tư liệu sản xuất. |
| Quan hệ phân phối |
Phân phối sản phẩm lao động mang nặng tính bình quân thông qua chế độ công điểm. |
Trả công theo lao động, chia lãi theo mức độ sử dụng dịch vụ và hưởng lợi nhuận trên vốn góp. |
| Quan hệ giữa Nhà nước và HTX |
Là đơn vị thực hiện kế hoạch nhà nước giao, nhận vốn/vật tư bao cấp, gánh vác các chính sách phúc lợi xã hội địa phương. |
Đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm; Nhà nước ban hành luật để quản lý và khuyến khích. |
| Hiệu quả kinh tế và sức sống |
Quan hệ hợp tác vô chủ, thiếu động lực kinh tế, bộc lộ bất cập dẫn đến khủng hoảng, tan rã sau 50 năm tồn tại. |
Không đối lập với kinh tế cá thể mà phục vụ kinh tế hộ; tiếp tục tồn tại và phát triển ổn định sau hơn 150 năm. |
Trong nền kinh tế thị trường, cơ cấu kinh tế gồm 3 khu vực: Khu vực kinh tế tư nhân (private sector), Khu vực kinh tế Nhà nước (state sector) và Khu vực kinh tế hộ gia đình/cá thể. Hợp tác xã đóng vai trò khu vực phụ trợ thiết yếu nhằm bảo vệ người sản xuất nhỏ, tạo việc làm và ổn định xã hội. Tại Việt Nam, quá trình đổi mới HTX được tiến hành đồng bộ trên 3 phương diện:
- Quan hệ sở hữu: Đánh giá lại tài sản, trừ vốn công trợ và nợ, trích quỹ chung, phần còn lại quy ra cổ phần của từng xã viên theo vốn góp ban đầu và số năm tham gia; chuyển giao tư liệu sản xuất cho hộ xã viên quản lý.
- Quan hệ tổ chức quản lý: Hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ; HTX chỉ làm dịch vụ ở các khâu then chốt; thực hiện nguyên tắc dân chủ bình đẳng mỗi xã viên một phiếu biểu quyết; bộ máy tinh gọn, tăng quyền chủ động cho Chủ nhiệm HTX.
- Quan hệ phân phối: Kết hợp phân phối theo lao động, chia lãi theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX, hưởng lợi tức theo vốn góp và trích lập quỹ không chia để tái đầu tư và phát triển phúc lợi.
Về bản chất pháp lý, luận án phân tích định nghĩa HTX tại Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 1996 và chỉ rõ 4 đặc trưng pháp lý:
- HTX là một tổ chức kinh tế: Phải tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có lãi; nếu ngừng hoạt động 12 tháng liên tục sẽ bị giải thể bắt buộc (Điểm b Khoản 2 Điều 46).
- HTX có tư cách pháp nhân: Có tài sản độc lập (Điều 38, 40); có tên gọi riêng kèm dấu hiệu "Hợp tác xã" (Điều 10); có Điều lệ được đăng ký (Điều 14); có cơ cấu tổ chức gồm Đại hội xã viên, Ban Quản trị, Chủ nhiệm HTX, Ban Kiểm soát (Điều 26-35); có trụ sở cố định xác nhận bởi UBND cấp xã (Điều 16) và độc lập chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản riêng.
- HTX tiến hành đăng ký kinh doanh theo pháp luật: Được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại UBND cấp huyện hoặc cấp tỉnh tùy ngành nghề.
- HTX do người dân tự nguyện cùng góp vốn, góp sức: Số lượng thành viên tối thiểu theo các Điều lệ mẫu năm 1997 quy định gồm: HTX nông nghiệp từ 7 xã viên; HTX giao thông vận tải từ 10 xã viên; HTX thủy sản từ 10 xã viên; HTX thương mại từ 15 xã viên (vùng núi, sâu, xa từ 7 xã viên); Quỹ tín dụng nhân dân từ 30 xã viên.
Luận án khẳng định HTX là một loại hình doanh nghiệp đặc thù (theo Nghị định 189/NĐ-CP năm 1994 và áp dụng thủ tục phá sản theo Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993). Đồng thời, Điều 7 Luật Hợp tác xã năm 1996 ghi nhận 5 nguyên tắc tổ chức và hoạt động, tiếp thu các chuẩn mực của ICA 1995: Tự nguyện gia nhập và ra HTX; Quản lý dân chủ và bình đẳng; Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; Chia lãi kết hợp lợi ích xã viên và sự phát triển của HTX; Hợp tác và phát triển cộng đồng (nghĩa vụ giáo dục, đào tạo, thông tin được quy định tại Khoản 10 Điều 9).
Phần tiếp theo của Chương 1 phân tích hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Từ quan niệm ban đầu của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về HTX công xưởng và các nguyên tắc đối với nông dân trong tác phẩm "Vấn đề nông dân Pháp và Đức" (tự nguyện, giáo dục làm mẫu, tuyệt đối không tước đoạt tiểu nông, nhà nước giúp đỡ) đến bước chuyển biến quan trọng của V. I. Lênin từ thời kỳ Chính sách Cộng sản thời chiến sang Chính sách Kinh tế mới (NEP) qua các tác phẩm "Bàn về thuế lương thực" và "Bàn về chế độ hợp tác". Lênin khẳng định HTX không loại trừ kinh tế hàng hóa mà thông qua thị trường để dẫn dắt tiểu nông quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó HTX tiêu dùng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Cuối cùng, chương 1 điểm lại sự phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam: Từ giai đoạn đầu có tư tưởng nóng vội, chủ quan duy ý chí, tuyệt đối hóa công hữu hóa và tập thể hóa quy mô lớn qua Nghị quyết Trung ương 8 khóa II (1955), Nghị quyết Trung ương 14 khóa II (1958), Hội nghị Trung ương 16 khóa II (1959), đẩy quy mô HTX lên cấp xã và liên xã (năm 1979 miền Bắc có 4.154 HTX toàn xã, quy mô trên 1000 ha; năm 1980 quy mô đội sản xuất gấp đôi năm 1970) dẫn đến trì trệ; cho đến giai đoạn đổi mới tư duy, thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị tự chủ và xác lập mô hình HTX dịch vụ kiểu mới.
Chương 2: Cơ sở pháp lý và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã
Chương 2 phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn 4 năm thi hành Luật Hợp tác xã năm 1996 thông qua 3 nội dung trọng tâm:
- Thực trạng pháp luật về tổ chức và quản lý HTX: Đánh giá quá trình lập pháp tại Việt Nam từ Điều lệ mẫu HTX nông nghiệp bậc thấp năm 1959, Điều lệ mẫu năm 1969, các văn bản thời kỳ khoán 100 (Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981) và khoán 10 (Nghị quyết 10-NQ/TW năm 1988), đến việc ban hành Luật Hợp tác xã năm 1996.
- Đổi mới tổ chức và quản lý theo Luật Hợp tác xã năm 1996:
- Về quản lý nhà nước: Chuyển từ cơ chế chỉ huy hành chính, can thiệp trực tiếp sang cơ chế quản lý bằng pháp luật, thực hiện đăng ký kinh doanh, ban hành chính sách hỗ trợ phát triển HTX (về đất đai, vốn, công nghệ, thuế, đào tạo cán bộ) và thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền.
- Về tổ chức và quản lý nội bộ: Thiết lập cơ chế phân định rõ quyền hạn giữa cơ quan quyết định cao nhất (Đại hội xã viên), cơ quan điều hành (Ban Quản trị và Chủ nhiệm HTX) và cơ quan kiểm tra độc lập (Ban Kiểm soát), đảm bảo nguyên tắc quản trị dân chủ, tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm tài chính.
- Thực tiễn 4 năm thi hành Luật Hợp tác xã (1996 - 2000): Luận án đánh giá kết quả chuyển đổi các HTX kiểu cũ sang đăng ký lại theo luật mới và thành lập các HTX mới; đồng thời phân tích các vướng mắc, tồn tại: việc xử lý nợ đọng và tài sản chung còn bế tắc, nhiều nơi chuyển đổi mang tính hình thức "bình mới rượu cũ", năng lực cán bộ quản lý HTX còn hạn chế, các chính sách ưu đãi của Nhà nước chưa thực sự đi vào đời sống, và mối quan hệ pháp lý giữa kinh tế hộ với HTX chưa được phân định rành mạch.
Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức và quản lý các hợp tác xã
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và định hướng lập pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Các định hướng cơ bản: Bảo đảm sự nhất quán giữa lý luận kinh tế thị trường và chế định pháp luật; tôn trọng tuyệt đối tính tự nguyện, dân chủ và quyền tự chủ kinh tế của hộ xã viên; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật gắn liền với các chính sách bảo trợ, khuyến khích phát triển HTX kiểu mới.
- Các khuyến nghị lập pháp cụ thể:
- Hoàn thiện quy định về điều kiện gia nhập, rút vốn và tư cách xã viên, phân định rõ quyền sở hữu tài sản của xã viên và tài sản chung không chia của hợp tác xã.
- Hoàn thiện các quy định về đăng ký kinh doanh, thủ tục thành lập và cấp giấy phép hoạt động cho HTX theo hướng đơn giản, thuận tiện, giảm tính hành chính quan liêu.
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị nội bộ HTX: Quy định cụ thể tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền hạn của Chủ nhiệm HTX; tăng cường vị thế độc lập và quyền hạn giám sát thực chất của Ban Kiểm soát.
- Bổ sung các quy chế pháp lý về tài chính, phương thức phân phối lãi theo mức độ sử dụng dịch vụ và cơ chế trích lập quỹ tích lũy không chia.
- Xây dựng quy định cụ thể, chặt chẽ về trình tự, thủ tục tổ chức lại, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể và áp dụng pháp luật phá sản đối với hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.
- Xây dựng cơ chế chính sách đồng bộ về bảo hiểm xã hội cho xã viên HTX, chính sách hỗ trợ tín dụng, đất đai và xúc tiến thương mại cho khu vực kinh tế hợp tác.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:
- Về lý luận:
- Khẳng định và phát triển có hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hợp tác xã trong mối quan hệ tất yếu với nền sản xuất hàng hóa.
- Hệ thống hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về hợp tác xã, làm sáng tỏ quá trình chuyển biến tư duy lý luận từ mô hình tập thể hóa sang mô hình hợp tác hóa phù hợp với kinh tế thị trường.
- Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; phân tích sâu sắc các tiêu chí pháp lý để xác định hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp đặc thù có tư cách pháp nhân trong hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam.
- So sánh và đối chiếu chế định tổ chức, quản lý HTX theo Luật Hợp tác xã năm 1996 với nguyên tắc hợp tác xã quốc tế của ICA (1995) và luật pháp của một số quốc gia, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm lập pháp.
- Về thực tiễn:
- Tổng kết, đánh giá thực trạng thi hành Luật Hợp tác xã sau 4 năm áp dụng (1996 - 2000), chỉ rõ những bất cập về cơ chế quản lý nhà nước cũng như mô hình tổ chức nội bộ HTX.
- Đưa ra hệ thống khuyến nghị thực tế nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của Luật Hợp tác xã năm 1996 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Kết quả nghiên cứu của tác giả đã được công bố trong 4 bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành:
- "Những điều cần bàn thêm khi sử dụng thuật ngữ 'Kinh tế hợp tác'" (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, số 5/2000).
- "Xã viên hợp tác xã và chế độ bảo hiểm xã hội" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật - Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, số 6 (146)/2000).
- "Tổ chức lại, giải thể, phá sản hợp tác xã - Một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện Luật Hợp tác xã năm 1996" (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, số 10/2000).
- "Một số vấn đề về hợp tác xã cổ phần ở Việt Nam hiện nay" (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, số 3/2001).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình xuất phát từ phạm vi nghiên cứu chuyên ngành Luật Kinh tế và bối cảnh thời điểm thực hiện (năm 2001). Luận án chủ yếu tập trung phân tích dưới góc độ pháp lý về chế định tổ chức và quản lý HTX trong điều kiện thực tiễn thi hành Luật Hợp tác xã năm 1996 mới chỉ trải qua 4 năm triển khai ban đầu, khi quá trình chuyển đổi giữa hai mô hình vẫn đang diễn ra dở dang tại nhiều địa phương.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đặt ra từ kết quả của luận án là tiếp tục theo dõi thực tiễn chuyển đổi HTX trên phạm vi toàn quốc, nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các loại hình hợp tác xã chuyên ngành đặc thù (như Quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, hợp tác xã vận tải, tiểu thủ công nghiệp) và hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp tác xã cổ phần trong giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Quản trị Kinh doanh và Kinh tế Nông nghiệp trong việc nghiên cứu chế định pháp lý doanh nghiệp và kinh tế tập thể.
- Giảng viên đại học và các viện nghiên cứu khoa học pháp lý sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu về lịch sử lập pháp và pháp luật hợp tác xã tại Việt Nam.
- Các cơ quan lập pháp, cơ quan soạn thảo chính sách (Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam) sử dụng làm cơ sở khoa học để đánh giá thực tiễn và tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Hợp tác xã trong các giai đoạn tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm và các đặc trưng pháp lý cơ bản của hợp tác xã theo luận án là gì?
Hợp tác xã theo Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 1996 là tổ chức kinh tế tự chủ của người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể và từng xã viên nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hợp tác xã có 4 đặc trưng pháp lý: là tổ chức kinh tế; có tư cách pháp nhân đầy đủ; tiến hành đăng ký kinh doanh theo pháp luật; và được thành lập trên cơ sở người dân tự nguyện cùng góp vốn, góp sức.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa mô hình HTX - tập thể hóa và mô hình HTX - hợp tác hóa là gì?
Mô hình HTX - tập thể hóa (cơ chế kế hoạch hóa tập trung) thực hiện công hữu hóa tư liệu sản xuất, xóa bỏ kinh tế hộ, biến xã viên thành người làm công phụ thuộc, phân phối bình quân theo công điểm. Ngược lại, mô hình HTX - hợp tác hóa (kinh tế thị trường) duy trì quyền sở hữu tư liệu sản xuất và tính tự chủ của kinh tế hộ, HTX đóng vai trò hỗ trợ dịch vụ, quản trị dân chủ bình đẳng và phân phối kết hợp theo mức độ sử dụng dịch vụ và vốn góp.
3. Luật Hợp tác xã năm 1996 quy định bao nhiêu nguyên tắc tổ chức và hoạt động, có kế thừa chuẩn mực quốc tế không?
Điều 7 Luật Hợp tác xã năm 1996 quy định 5 nguyên tắc: Tự nguyện gia nhập và ra HTX; Quản lý dân chủ và bình đẳng; Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; Chia lãi đảm bảo kết hợp lợi ích xã viên và sự phát triển HTX; Hợp tác và phát triển cộng đồng. Năm nguyên tắc này tiếp thu trực tiếp từ 7 nguyên tắc của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA 1995), đồng thời nguyên tắc về giáo dục, đào tạo, thông tin được thể chế hóa tại Khoản 10 Điều 9 của Luật.
4. Mối quan hệ giữa kinh tế hộ gia đình và hợp tác xã kiểu mới được luận án xác định như thế nào?
Luận án dựa trên quan điểm của Chayanov và Emelianov để khẳng định hợp tác xã trong kinh tế thị trường không đối lập và không hòa tan kinh tế hộ. Hợp tác xã là sự mở rộng và bổ sung cho kinh tế hộ tự chủ, thực hiện các dịch vụ đầu vào và đầu ra mà từng hộ cá thể không tự giải quyết được nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của hộ trên thị trường.
5. Điều kiện về số lượng xã viên tối thiểu khi thành lập hợp tác xã trong các Điều lệ mẫu năm 1997 là bao nhiêu?
Theo các Điều lệ mẫu ban hành ngày 29/4/1997 của Chính phủ, số lượng thành viên tối thiểu quy định cho từng loại hình gồm: HTX nông nghiệp có ít nhất 7 xã viên (hoặc hộ xã viên); HTX giao thông vận tải có ít nhất 10 xã viên; HTX thủy sản có ít nhất 10 xã viên; HTX thương mại có ít nhất 15 xã viên (vùng núi, sâu, xa là 7 xã viên); Quỹ tín dụng nhân dân có ít nhất 30 xã viên.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Thị Thơ là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên trong chuyên ngành Luật Kinh tế tại Việt Nam làm sáng tỏ một cách toàn diện cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức, quản lý hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 1996. Bằng việc kết hợp phương pháp duy vật lịch sử, phân tích quy phạm và luật học so sánh, luận án đã làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời phân định ranh giới giữa mô hình tập thể hóa kiểu cũ và mô hình hợp tác hóa kiểu mới. Hệ thống luận điểm và khuyến nghị lập pháp được đề xuất trong công trình là nguồn tư liệu khoa học có giá trị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam.