CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Tầm quan trọng của thảo luận Nghị quyết số 29/NQ - TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Tinh thần của Nghị quyết được quán triệt và lan tỏa tới các cấp học, ngành học trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc gia. Ở bậc ĐH, cao đẳng hiện nay, cụm từ “đổi mới” về phương pháp, đổi mới hình thức dạy hình thức học các môn học về LLCT Mác - Lênin, TT HCM được cả hệ thống quan tâm.
Thực tiễn không còn tình trạng “thầy đọc - trò chép” hoặc nhồi nhét kiến thức nữa, mà đã chuyển mình theo xu hướng phát huy tính tích cực, sự chủ động của SV, phát huy vai trò định hướng của người thầy giúp SV chủ động lĩnh hội tri thức và hình thành những kỹ năng trong học tập, công tác. Sự đổi mới đó là cần thiết và cũng là một yêu cầu tất yếu. Từ năm 2007, về mặt văn bản Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành CV số 83 nhằm hướng dẫn việc thực hiện nội dung, chương trình các môn học LLCT Mác - Lênin, TT HCM trình độ ĐH và cao đẳng theo hình thức: lý thuyết 50 - thảo luận 30 - tự học 20 (tức là tỷ lệ 50% - 30% - 20%). Về cách thức thực hành TL như thế nào, văn bản cũng nói rõ, giảng viên chủ trì việc thảo luận theo từng lớp do nhà trường sắp xếp với quy mô phù hợp, bảo đảm tất cả SV đều có cơ hội nói lên phát biểu, trao đổi thảo luận.
Nội dung của phân mục thực hành thảo luận (TL) cần đi vào những kiến thức cơ bản, đặc biệt là có sự liên hệ sâu sát tình hình đất nước cũng như chuyên ngành đào tạo của SV. Đây là cơ sở để đến năm 2008, Bộ ban hành Quyết định 52 xác định rõ nội dung, chương trình các môn LLCT ở bậc ĐH và bậc cao đẳng, theo đó, hình thức áp dụng đào tạo SV theo quy chế “học chế tín chỉ” được quy định với thời lượng lý thuyết - thực hành là 70% - 30% TL. Cho tới hiện nay, học chế tín chỉ đã được áp dụng với tất cả các học phần học tập của SV ở giảng đường ĐH. Như vậy, cùng với giảng lý thuyết, thì thực hành TL cũng là hình thức dạy học chính khóa bắt buộc trên giảng đường ĐH đối với tất cả các môn học LLCT căn cứ theo quy định trên của Bộ.
Vì thế, thực hiện hoạt động TL và tổ chức thật hiệu quả các tiết thực hành - TL trên lớp chính là giải pháp góp phần không nhỏ vào đổi mới các phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đào tạo SV khi học tập TT HCM nói riêng, các môn LLCT nói chung. 3 Khi nói về tầm quan trọng của TL thực hành, vai trò của tự học trong quá trình dạy, học, đào tạo, rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “phải biết tự động học tập”, phải coi “tự học “làm cốt”. Muốn tự học tốt thì phải do “thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [3, tr.312], đối với tự học phải vừa “nâng cao” vừa “hướng dẫn” [4, tr.360] thì mới đem lại hiệu quả,… Có thể nói, tự học là một quá trình và TL là phương cách giúp sinh viên trao đổi, học hỏi, nắm được và có thể vận dụng kiến thức môn học vào nhiều khía cạnh trong cuộc đời. Mỗi một giảng viên khi nghiên cứu, giảng dạy, mỗi một SV khi học tập nghiên cứu TT HCM thì đương nhiên phải cần học tập, quán triệt và thấm nhuần TT HCM về tự học, quá trình tự học suốt đời cũng như chỉ đạo về TL của Chủ tịch Hồ Chí Minh như Người đã nói.
Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại cách mạng 4.0 với công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo rất nhiều nhiều ưu viêt. Mỗi ngày, lại có nhiều tri thức mới ra đời, việc con người tìm hiểu thông tin, học hỏi tri thức không chỉ có 1 hướng, 1 chiều như trước, mà trở nên hết sức đa dạng, dễ dàng, thuận tiện. Người giảng viên trong thời đại mới không thể độc quyền tri thức, không phải là nhân tố duy nhất trong việc mang lại kiến thức cho SV. Đặc biệt với các môn học LLCT, giảng viên không thể “thao thao bất tuyệt” với kiến thức LLCT trừu tượng trên giảng đường hoặc cố tìm cách “nhồi nhét” kiến thức cho các em SV.
Giờ đây, SV là trung tâm của quá trình lĩnh hội tri thức, giảng viên đóng vai trò là người thầy định hướng, hướng dẫn SV cách thức học tập, ghi nhớ, chủ động tìm kiếm, tiếp thu phù hợp. Trong học tập, nghiên cứu TT HCM hiện nay có rất nhiều thuận lợi, bởi lẽ, ngoài những nội dung có được trong nhà trường, SV dễ dàng tìm kiếm và tiếp cận hệ thống tri thức đa dạng, phong phú về Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet, mạng xã hội. Hơn nữa, từ 15/5/2016 khi Bộ Chính trị ra Chỉ thị đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh” thì mỗi SV lại càng có nhiều cơ hội được tiếp cận, trao đổi, nghiên cứu sâu sắc hơn, được hiểu biết hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, phong cách và tấm gương hết mực cao đẹp của Người. Nhiều tri thức về Chủ tịch Hồ Chí Minh được chia sẻ trên các nền tảng xã hội với nhiều cách thức khác nhau.
Vì thế, giảng viên TT HCM đương nhiên không thể giữ nguyên cách dạy môn học theo phương pháp truyền thống nữa. Tổ chức thực hành - TL được coi là một cách thức để khắc phục những hạn chế cũ trước đây. Trên cơ sở tiến hành TL TT HCM, SV có được môi trường để thể hiện tri 4 thức, năng lực, được rèn luyện kỹ năng nhìn nhận, khả năng đánh giá nhận xét, bồi đắp kỹ năng thực hành, khả năng vận dụng các tri thức về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong quá trình trao đổi, làm việc cùng nhau để chuẩn bị những nội dung đưa ra TL, đòi hỏi SV phải tìm hiểu, nghiên cứu trước bài học, SV phải lắng nghe bài giảng của giảng viên, biết tìm các tư liệu học tập và xử lý, biên tập thông tin tư liệu cần thiết khi TL trước tập thể lớp.
Và cũng vì thế, SV vừa nắm được những hiểu biết cơ bản về TT HCM, vừa được mở rộng kiến thức và làm rõ hơn tri thức của bản thân về những nội dung gắn liền với môn học. Bên cạnh đó, tổ chức hoạt động TL TT HCM cũng là “sân chơi” để SV có thể trình bày các ý kiến, quan điểm, chia sẻ tài liệu, học hỏi nhau, có thể trao đổi cùng nhau để giải quyết các vấn đề môn học đặt ra. Như vậy, hoạt động TL môn TT HCM sẽ góp phần bồi dưỡng SV về kỹ năng học tập, kỹ năng tự tìm hiểu nghiên cứu vấn đề, năng lực tiếp nhận vấn đề, giúp SV rèn luyện kỹ năng tổng hợp, khái quát, khả năng phân tích, trình bày vấn đề, giúp các em hiểu sâu hơn về nền tảng tư tưởng của Đảng. Yêu cầu với giảng viên thảo luận Đối với giờ TL môn TT HCM, người giảng viên đóng vai trò chủ đạo trong tổ chức, điều hành, định hướng, dẫn dắt hoạt động của sinh viên.
Vì thế, để giờ TL thành công thì người giảng viên LLCT cần phải: - Có chuyên môn về LLCT, có hiểu biết lý luận và thực tiễn sâu rộng, phong phú. Giảng viên không có chuyên môn LLCT và TT HCM thì không thể giải đáp cặn kẽ những vấn đề SV đặt ra, không biết cách tổ chức, dẫn dắt, không thể thực hiện và hướng dẫn SV thảo luận tốt môn học này. Mục đích của TL cũng là nhằm nâng cao tính tích cực, tự giác, sự tương tác thầy trò, trò trò, tạo cơ hội sáng tạo cho SV. Vì thế, giảng viên TT HCM phải biết cách tổ chức, xây dựng, phối hợp SV với nhau, kể cả những SV điển hình, tích cực hay những SV rụt rè nhút nhát cần sự khích lệ, động viên kịp thời.
Thực tế không thể phủ nhận, giảng viên chính là người có vai trò quan trọng nhất trong định hướng lối suy nghĩ, tư duy và kết quả TL cho SV. SV khi tiến hành TL sẽ thể hiện nhiều góc độ vấn đề, có thể theo đúng “kịch bản” dự kiến, cũng có thể sẽ xuất hiện các vấn đề mới, các câu hỏi mới nằm ngoài vấn đề ban đầu. Thậm chí đôi khi, SV hoặc các nhóm SV còn tranh luận vấn đề mới sôi nổi hơn cả vấn đề cũ khiến cho không khí buổi TL hoặc sôi nổi hoặc căng thẳng (do SV tranh luận). Ai sẽ xử lý các tình huống đó? Chính là người giảng viên.
Và vì thế mỗi giảng viên cần không ngừng bòi dưỡng về trình độ chuyên môn, hiểu biết nghề nghiệp, tăng cường năng lực sư phạm (nghiệp vụ sư phạm), 5 có vốn kiến thức lý luận và hiểu biết thực tiễn phong phú.… để thực hiện tốt nhất vai trò của người chủ trì hoạt động TL này. Người giảng viên TT HCM ngoài kiến thức chuyên môn vững thì cần thực sự phải yêu nghề giảng dạy các môn LLCT. Giảng dạy LLCT có những khó khăn, có những đặc thù riêng và không phải ai cũng giảng tốt được, nhất là giảng sao cho hay, cho cuốn. Để làm được điều đó thì cần thêm yếu tố là sự tâm huyết.
Sự tâm huyết thể hiện ở chỗ: tâm huyết với nghề, tâm huyết với trò, tâm huyết với từng bài giảng. Giảng viên tâm huyết là người luôn luôn vui vẻ, cầu thị, cầu tiến, trước mỗi bài giảng đều tư duy “kịch bản” cần giảng dạy, xây dựng giáo án hợp lý, suy nghĩ xem sẽ thực hiện kế hoạch giảng dạy như thế nào, dùng phương pháp nào, hình thức nào. Sau mỗi bài giảng tìm cách rút kinh nghiệm, xem có nội dung nào cần chỉnh sửa hay thiết kế lại, có phương pháp nào cần điều chỉnh gì không? Giảng viên tâm huyết luôn coi việc dạy học là niềm đam mê của mình, đồng thời lan tỏa cảm hứng tích cực, tình yêu nghề đối với mọi người xung quanh. - Nắm được điều kiện dạy học.
Giảng viên cần hướng đến đối tượng tham gia TL chính là các em SV. SV đại học cao đẳng về cơ bản đều nằm trong độ tuổi thanh niên, tuổi từ 18-25, có nền tảng kiến thức khác nhau do các em theo học các chuyên ngành khác nhau trong trường (từ hai khối chủ yếu là kinh tế và kỹ thuật).