Học tập và làm theo Bác: Ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước

Khám phá tinh thần học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường và khát vọng xây dựng đất nước. Nâng cao ý chí và động lực phát triển.

Người đăng

Ẩn danh
117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư tưởng tự lực tự cường và khát vọng phát triển đất nước

Tư tưởng tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là nội dung cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ý chí tự lực, tự cường được hiểu là quyết tâm sắt đá, tự mình làm lấy, tự làm mình mạnh lên trên cơ sở chí hướng tự giác. Đây là yếu tố tạo ra động lực nội sinh, sức mạnh nội lực của cả dân tộc. Khát vọng phát triển là trạng thái tinh thần phản ánh sự mong muốn mãnh liệt đưa đất nước đi lên. Hai yếu tố này thống nhất, thúc đẩy lẫn nhau. Ý chí và khát vọng biến mong muốn thành quyết tâm, hành động vươn lên. Việt Nam là dân tộc có truyền thống đoàn kết, văn hiến, anh hùng. Tự lực, tự cường và khát vọng phát triển là cội nguồn của những kỳ tích trong tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước. Học tập tư tưởng Bác về tự lực, tự cường là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

1.1. Khái niệm ý chí tự lực tự cường trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Ý chí tự lực, tự cường là quyết tâm sắt đá, quyết làm bằng được mục đích theo đuổi, tự mình làm lấy, tự làm mình mạnh lên. Đây là sự lựa chọn mục đích tự giác và quyết định phương thức hợp lý nhất phù hợp với điều kiện lịch sử tự nhiên. Trong phạm trù quốc gia, ý chí tự lực, tự cường là sự khơi dậy quyết tâm, nghị lực của cả dân tộc. Sức mạnh nội sinh được dấy lên, thúc đẩy đất nước phát triển mạnh lên, giàu lên bằng chính nội lực của mình. Tư tưởng này trở thành nền tảng quan trọng trong đường lối cách mạng Việt Nam.

1.2. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là trạng thái tinh thần phản ánh sự mong muốn mãnh liệt đưa đất nước đi lên. Khát vọng là nguồn động lực có sức mạnh vô biên, thể hiện qua hoạt động không ngơi nghỉ, không bao giờ từ bỏ ước mơ. Khát vọng phát triển của một dân tộc là sự cộng hưởng khát vọng vươn lên của cộng đồng, con người cùng quốc gia. Năng lượng nội lực to lớn đó tạo thành sức mạnh vô song cho toàn bộ công cuộc phát triển đất nước.

II. Phân tích nguồn gốc và ý nghĩa của tự lực tự cường trong lịch sử dân tộc

Tư tưởng tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước bắt nguồn từ truyền thống văn hiến, anh hùng của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước đã hun đúc ý chí quật cường, tinh thần bất khuất. Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống đó, kết hợp với tinh thần thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga. Người khẳng định nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do thì toàn thể quốc gia còn chịu mãi kiếp ngựa trâu. Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là sự khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia vừa là tiền đề, vừa là điều kiện tiên quyết để xây dựng chế độ mới, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

2.1. Truyền thống tự lực tự cường của dân tộc Việt Nam

Việt Nam là dân tộc có truyền thống đoàn kết, văn hiến, anh hùng xuyên suốt lịch sử hàng nghìn năm. Ý chí tự lực, tự cường là sức mạnh nội sinh phi thường, là cội nguồn của những kỳ tích dựng nước, giữ nước. Từ thời đại Hùng Vương đến các triều đại Lý, Trần, Lê, tinh thần độc lập, tự chủ luôn được đề cao. Truyền thống ấy được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển lên tầm cao mới, trở thành tư tưởng cách mạng có hệ thống, dẫn dắt dân tộc đi đến thắng lợi.

2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và quyền tự quyết

Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm giành độc lập bằng mọi giá, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn. Tại Hội nghị Trung ương 8, Người đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp. Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khẳng định quyền độc lập dân tộc và quyền dân tộc tự quyết trước toàn thế giới. Tư tưởng này mở ra kỷ nguyên độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

III. Phương pháp học tập và làm theo tư tưởng tự lực tự cường của Bác Hồ

Học tập và làm theo tư tưởng tự lực, tự cường của Bác Hồ đòi hỏi sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động cụ thể. Trước hết, cần xây dựng ý chí quyết tâm trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tự lực, tự cường bắt đầu từ tinh thần tự giác, không ỷ lại, không trông chờ vào ngoại lực. Mỗi cá nhân phải rèn luyện bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Về phía tổ chức, cần tạo cơ chế khuyến khích sáng tạo, đổi mới, phát huy nội lực. Giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc là nền tảng quan trọng. Khơi dậy khát vọng phát triển trong thế hệ trẻ, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đảng và Nhà nước cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, lấy nội lực làm chủ đạo, kết hợp với ngoại lực hiệu quả. Tự lực, tự cường không có nghĩa là khép kín mà là chủ động hội nhập, hợp tác trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi.

3.1. Xây dựng ý chí quyết tâm và tinh thần tự lực trong mỗi cá nhân

Xây dựng ý chí quyết tâm đòi hỏi mỗi người phải rèn luyện bản lĩnh, vượt qua khó khăn thử thách. Tinh thần tự lực bắt đầu từ nhận thức rõ trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước. Không ỷ lại, không trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài mà chủ động tìm giải pháp. Giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội có vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất này. Mỗi công dân cần ý thức rằng sự phát triển của đất nước bắt đầu từ nỗ lực của từng cá nhân.

3.2. Phát huy nội lực quốc gia trong thời kỳ hội nhập

Phát huy nội lực quốc gia trong thời kỳ hội nhập yêu cầu lấy sức mạnh trong nước làm chủ đạo. Cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao và khoa học công nghệ. Tự lực, tự cường không có nghĩa là khép kín mà là chủ động hội nhập trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi. Đảng và Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới, sáng tạo, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp. Kết hợp hiệu quả nội lực với ngoại lực để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

IV. Kết luận và ứng dụng tư tưởng tự lực tự cường vào thực tiễn phát triển đất nước

Tư tưởng tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây là di sản tinh thần quý báu, nguồn động lực to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đứng trước nhiều thời cơ, thách thức đan xen. Học tập và làm theo tư tưởng Bác về tự lực, tự cường là yêu cầu cấp thiết. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương, đi đầu trong rèn luyện ý chí, phát huy nội lực. Toàn dân tộc cần đoàn kết một lòng, biến khát vọng phát triển thành hành động cụ thể. Mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân. Tự lực, tự cường và khát vọng phát triển là chìa khóa đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu.

4.1. Bài học từ tư tưởng tự lực tự cường cho giai đoạn hiện nay

Bài học lớn nhất từ tư tưởng tự lực, tự cường là lấy nội lực làm nền tảng, kết hợp hài hòa với ngoại lực. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, tinh thần độc lập, tự chủ càng cần được đề cao. Cần phát huy sáng tạo, đổi mới tư duy, không ngừng học hỏi để bắt kịp thời đại. Mỗi người dân, mỗi tổ chức phải là chủ thể trong công cuộc phát triển. Đoàn kết toàn dân tộc là sức mạnh to lớn để vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

4.2. Tầm nhìn phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc đến năm 2045

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mục tiêu này đòi hỏi sự nỗ lực phi thường của toàn dân tộc, phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường. Cần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế. Đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Khát vọng phát triển phải trở thành động lực chung của toàn xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

P h Ỉ B t lt h a i HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TVTUỦNG, BẠO D0C, PHONG CẤCH HỔ CHi MINH VÉ Ý CHÍ Tự Lực, TVCƯ0N6VÀKHÂTVỌNG PHÁT TRIỂN DẮT NUOC PHỐN VINH, HẠNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 91 I T ư TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỂ Ý CHÍ T ự Lực, T ự CƯỜNG VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIEN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC 1. Sự hình thành tư tưỏng, đạo đức, phong cách Hổ Chí Minh vể ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phổn vinh, hạnh phúc Ý chí tự lực, tự cường được hiểu là quyết tâm sắt đá, quyết làm bằng được mục đích theo đuổi, tự mình làm lấy, tự làm mình mạnh lên trên cơ sở chí hướng 93 tự giác lựa chọn mục đích và quyết định phương thức hợp lý nhất (phù hợp với điều kiện lịch sử - tự nhiên) để thực hiện mục tiêu. Ỷ chí tự lực, tự cường là một trong những yếu tố tư tưỏng quan trọng tạo ra động lực, nguồn lực, sức mạnh nội sinh. Cùng với kh á t vọng phất triển, ý chí tự lực, tự cường thúc đẩy quyết tâm, biến quyết tâm thành hành động, hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra.

Trong phạm trù quốc gia, ý chí tự lực, tự cường là sự khơi dậy quyết tâm, nghị lực của cả một dân tộc, dấy lên sức mạnh nội sinh, phát triển đất nước mạnh lên, giàu lên bằng chính sức mạnh của mình. K hát vọng p hát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc có thể hiểu là một trạng thái tinh thần, phản ánh sự ưóc ao, “mong muốn, đòi hỏi vối một sự thôi thúc 94 m ạnh mẽ”1, mà cụ thể ỏ đây là mong muốn phát triển đất nưốc phồn vinh, hạnh phúc. Harrell - thuyết trình gia nổi tiếng nước Mỹ, trong nhiều tác phẩm2 đã trình bày kh á t vọng như là một dạng thức tích cực của thái độ con người đối với cuộc sống. K hát vọng là nguồn động lực có sức mạnh vô biên trong mỗi con ngưòi, được thể hiện qua những hoạt động không ngơi nghỉ để con người không bao giò từ bỏ ước mơ, không bao giò khuất phục trước hoàn cảnh.

Do vậy, kh á t vọng góp phần tăng cưòng, củng cô"ý chí tự lực, tự cường. Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiến g Việt, Nxb. Harrell: Cám ơn cuộc sống, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2015; Thay thái độ - Dổi cuộc dời, Nxb.

Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr. 95 Khát vọng phát triển của một dân tộc là sự cộng hưởng khát vọng vươn lên của cộng đồng, của con ngưòi cùng quốc gia dân tộc, tạo thành nguồn năng lượng nội lực to lớn, tiềm tàng, có sức mạnh vô song và sống động cho toàn bộ công cuộc phát triển. Đó chính là động lực trung tâm của một quốc gia dân tộc trên con đưòng đi tới tương lai1. Việt Nam là một dân tộc có truyền thống đoàn kết, văn hiến, anh hùng.

Ý chí tự lực, tự cưòng và khát vọng phát triển đất nước là sức m ạnh nội sinh phi thường, là cội nguồn của những kỳ tích trong tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc. Xem thêm Vũ Minh Khương: “Việt Nam 2045: Tầm nhìn khát vọng và sứ mệnh lịch sử ’, tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam diện tủ, ngày 17/01/2020. 96 Hai nhân tố này thống nhất vối nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Ý chí và khát vọng sẽ tạo động lực, chuyển biến mong muốn thành quyết tâm, hành động vươn lên, mạnh lên, phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Sự hình thành ý chí tự lực, tự cường và kh á t vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh: Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các th ế hệ ông cha ta đã sớm hình thành ý chí tự lực, tự cưòng, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh. Ý chí, khát vọng ấy đã nuôi dưõng, hun đúc quá trình kiến tạo, xây dựng quốc gia - dân tộc trong tiến trình lịch sử, trỏ thành giá trị truyền thống, cơ sở vững chắc để khơi dậy, phát huy, nhân lên sức mạnh đoàn kết, sự nỗ lực của cả dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 97 Từ thòi các Vua Hùng dựng nước, đến Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa “đền nợ nước, trả thù nhà”, ước vọng của Triệu Thị Trinh “đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn”. hay qua lời tuyên ngôn Nam quốc sơn hà của Lý Thưòng Kiệt, Hịch tướng s ĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi,.

là những minh chứng hùng hồn của ý chí, khát vọng bảo vệ nền độc lập và xây dựng quốc gia hùng mạnh. Kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; tiếp th u tinh hoa văn hóa của nhân loại, Hồ Chí Minh đã sốm xác định: độc lập, phồn vinh cho quốc gia, dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân là xuất phát điểm và cũng là mục tiêu của cuộc hành trìn h tìm đưòng cứu nước, đó cũng là nguồn gốc tư tưởng của Người về ý ch í tự lực, tự cường, 98 k h á t vọng p h ấ t triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Sinh ra trong cảnh nước nhà bị nô dịch, lầm than, ngưòi thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm thức tỉnh, đau đáu nỗi niềm cứu nưóc, cứu dân. Người nung nấu một tinh thần, ý chí, khát vọng m ãnh liệt, mong muốn tìm ra con đưòng cứu nước.

Ngưòi luôn đề cao và coi trọng truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, mỗi khi đất nước lâm nguy, truyền thông ấy lại được dấy lên sục sôi, kết thành làn sóng mạnh mẽ, đưa dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, tinh thần ấy lại được các bậc tiền bối phát huy. Tuy nhiên, do hạn chế về tổ chức lãnh đạo và đường lối cách mạng nên các phong trào 99 yêu nước chống thực dân Pháp mặc dù rấ t bất khuất, kiên cưòng nhưng nhanh chóng đi đến th ất bại. Từ bài học xương máu của các bậc tiền bối trong quá trình đấu tran h chống chế độ thực dân cuốỉ th ế kỷ XIX - đầu th ế kỷ XX, Người đã nhận thức tự mình phải đi tìm con đường cứu nước phù hợp, để từ đó vận động đồng bào giác ngộ, tin theo và cùng làm cách mạng, lấy sức ta tự giải phóng cho ta.

Ngưòi chọn hướng đi sang các nước tư bản phương Tây để tìm hiểu sự thật đằng sau khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, xem người ta làm thế nào rồi trỏ về giúp đồng bào mình. Ngày 05/6/1911, tại bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Ngưòi bắt đầu chuyến hành trình trên con tàu Amiral Latouche Tréville, mang theo khát vọng cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều 100 tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”1. Điều này đã thể hiện tư tưỏng, ý chí tự lực, tự cường và một khát vọng lớn, mang tầm nhìn thòi đại của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đó cũng là lẽ sống, là lý tưởng phấn đấu, hy sinh mà Ngưòi kiên định thực hiện trong suốt cuộc đòi hoạt động cách mạng của mình.

Sống và làm việc tại nhiều nước tư bản phương Tây đã giúp Nguyễn Tất Thành nhận thức những vấn đề căn bản: (1) 0 đâu đế quốc tư bản thực dân cũng dã man, tàn bạo, cũng đầy rẫy những quan hệ phi nhân tính; ở đâu những người lao động nghèo khổ, bần cùng, cũng là bạn bè, 1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí M inh - Viện Hồ Chí M inh và các lãnh tụ của Đảng: H ồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, t. 101 anh em, đồng chí của nhau, họ phải được tập hợp lại, đứng lên đấu tranh.

(2) Các dân tộc bị áp bức, bóc lột đều mang trong mình sức mạnh quật khỏi, muốn phát huy tối đa sức mạnh tiềm tàng đó phải có một đưòng lối cách mạng đúng đắn. (3) Các dân tộc bị áp bức muốn độc lập phải biết tự cứu lấy mình, phải biết liên kết với các dân tộc bị áp bức khác và giai cấp vô sản ỏ các nước tư bản trong cuộc đấu tranh giải phóng. Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V. Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào.

Khi kể lại sự kiện quan trọng này, Ngưòi đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, 102 tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hõi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba””1. Tháng 12/1920, Ngưòi đã gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu sự chuyển biến mang tính bưóc ngoặt trong tư tưỏng của Người từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản. Đến đây, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước của Ngưòi được củng cố, khẳng định bằng tinh thần và kim chỉ nam của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 103 Sau khi xác định con đường cứu nước theo cách mạng vô sản, Ngưòi tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước. Ngưòi đã mang đến một luồng gió mới về đấu tranh cách mạng đối vói nhân dân Việt Nam, nhân dân các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc; khơi dậy tinh thần đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, thổi bùng ngọn lửa đấu tranh theo khuynh hướng cách mạng vô sản ở nước ta trong cuối những năm 20 của thế kỷ XX, đưa tới sự ra đời của chính đảng vô sản Việt Nam1, mở ra thòi đại rực rõ của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản V iệt Nam tại Hương cảng, Trung Quốc.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ in của Đảng (năm 1960) quyết nghị lấy ngày 03/02 hằng năm là Ngày kỷ niệm thành lập Đảng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ