Chương 1 NGUON GOC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẾN TƯ TƯỞNG HÒ CHÍ MINH VÈ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON DUONG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hệ thống những quan điểm, lý luận của Hồ Chí Minh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc điạ, nông nghiệp lạc hậu. Hệ thống quan điểm, lý luận đó được hình thành trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác — Lênin và tỉnh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại _ vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam. Nguôn gốc tư tưởng, lý luận * Truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ nên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nói riêng được hình thành và phát triển trước hết trên cái nền tỉnh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Việt Nam là một dân tộc có nền văn hóa lâu đời, được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử, nền văn hóa đó đã được bồi đắp qua bao nhiêu thế hệ, có bản sắc riêng, trở thành nguồn sống mãnh liệt giúp dân tộc ta vượt qua bao gian nguy, thử thách. Truyén thong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước trải qua hàng nghìn năm day thang tram, gian khổ nhưng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam hết sức kiên Cường, bất khuất với sức sống mạnh mẽ luôn vươn lên để tự khẳng định mình, thể hiện tỉnh thần độc lập tự chủ và lòng yêu nước nồng nàn, cao cả. Dân tộc đó không thê không có triết lý tư duy, dân tộc đó không thể không sản sinh ra những anh hùng, vĩ nhân.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử một dân tộc anh hùng, bền bỉ và kiên cường chinh phục thiên nhiên, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược để sinh tồn và phát triển. Dân tộc ta đã trải qua hàng chục cuộc kháng chiến lớn bảo vệ Tổ quốc chống các đội quân xâm lược Tan, Tay Han, Nam Han, Téng, Nguyên, Minh, Thanh đến các để quốc thực dân phương Tây và hàng nghìn cuộc khởi nghĩa giành độc lập, tự do. Vào giữa thế kỷ XIX, khi chế độ phong kiến Việt Nam đã suy yếu, mục nát, mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp địa chủ phong kiến với giai cấp nông dân. Thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, đề quốc Pháp là một kẻ thù mới, là một nước tư bản chủ nghĩa, có đội quân xâm lược nhà nghề, có trang bị võ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, có nền kinh tế mạnh.
Vì lợi ích hoàng tộc,vì muốn giữ ngai vàng mà triều đình nhà nguyễn đã phản bội dân tộc, đầu hàng thực dân Pháp. Sau khi đã cơ bản hoàn thành xong việc đặt ách cai trị trên đất nước ta, bọn đế quốc pháp đã bắt đầu tiến hành bóc lột nhân dân Việt Nam bằng những cuộc khai thác thuộc địa. Từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, mất hắn chủ quyền, độc lập, thống nhất, tự do. Xã hội Việt Nam vốn đã bị chế độ phong kiến làm cho trì trệ bao nhiêu thế kỷ, lại bị chế độ thực dân kìm hãm trong sự bế tắc với nền kinh tế lạc hậu, què quặt.
Trước bối cảnh đó, dẫn đến hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp; mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là giai cấp nông dân với gia cấp địa chủ phong kiến. Hai mâu thuẫn này gắn liền với nhau, xã hội Việt Nam muốn phát triển đi lên, phải đồng thời giải quyết hai mâu thuẫn trên, đánh đỗ chủ nghĩa đế quốc không tách rời việc xóa bỏ chế độ phong kiến. Đấu tranh giành độc lập dân tộc đi đôi với đấu tranh giành dân chủ, tự do. Nhiệm vụ chống đề quốc dé giành độc lập dân tộc và nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến để giành ruộng đất, tự do dân chủ cho nhân dân luôn luôn làm tiền đề, điều kiện cho nhau.
Muốn có độc lập, tự do, dân chủ thật sự phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Do 2 vậy, độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam - một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Việt Nam là một quốc gia hình thành sớm (nhà nước Văn Lang ra đời, từ 700- 258 trước Công Nguyên), Việt Nam không trải qua thời kỳ phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ. Quan hệ nô tỳ, chế độ nô lệ gia trưởng có phát triển nhưng trong một mức độ nhất định nào đó, quan hệ đó chưa bao giờ trở thành qua hệ chỉ phối, thống trị xã hội, nô tỳ chưa bao giờ giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, một số người giàu có trong xã hội vẫn chưa tách khỏi sản xuất hay ít ra hoạt động lao động sản xuất chưa phải là một công việc thấp kém chỉ dành cho thường dân hay nô tỳ và sự phân hóa giàu nghèo chưa thật sự sâu sắc.
Điều này đã dược Nguyễn Ái Quốc chứng mỉnh trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ: “nêu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liéng gì lớn; nếu nông dan chỉ sống bằng cái tối thiêu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hè biết công cụ bóc lột của họ là máy móc. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu”! Hơn nữa, chế độ phong kiến Việt Nam không trải qua chế độ lãnh địa với qua hệ lãnh chúa - nông nô, cũng không trải qua thời kỳ phân quyền cát cứ lâu dài. Điều này đã tác động tích cực đến tính đoàn kết cộng đồng dân tộc. Dân tộc Việt Nam ngay từ khi dựng nước đã phải liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm.
Để chiến thắng được kẻ thù hùng mạnh, phải huy động sức mạnh cả dân tộc cả về sức mạnh vật chất lẫn sức mạnh tỉnh thần. Đó là nền tảng tạo nên truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường và đoàn kết dân tộc. Việt Nam là một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là nghề bản địa. Nghề nông lấy đất và nước làm nền tảng, do vậy vẫn đề sở hữu ruộng đất là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu.
Thời kỳ mở nước, ruộng đất tư hữu chưa xuât hiện, toàn bộ ruộng đât cày cây cùng với rừng núi, sông ngòi, ' Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 3 ao hồ trong phạm vi công xã đều thuộc quyền sở hữu của công xã. Vùng đồng bằng, chế độ công điền công thổ của làng vẫn tồn tại phổ biến mãi đến thế kỷ thứ XV. Ruộng đất của công xã được phân chia cho các gia đình thành viên sử dụng, trong đó, đơn vị sản xuất chủ yếu là gia đình nhỏ.
Ngoài ruộng đất phân chia cho các thành viên cày cấy, công xã còn có thể giữ một bộ phận ruộng đất để canh tác chung nhằm sử dụng cho những chi phí công cộng. Cách phân chia ruộng đất lúc bấy giờ mang tính chất bình đẳng, dân chủ của cộng đồng công xã. Dưới chế độ phong kiến, quyền sở hữu ruộng đất thuộc về nhà nước, đứng đầu tượng trưng là vua. Với sự tiến triển theo thời gian, chế độ sở hữu ruộng đất, ở làng công xã Việt Nam cũng hình thành nhiều thành phần sở hữu: có ruộng quan điền (ruộng của nhà nước giao cho làng quản lý hoặc cho quan lại được phong lộc điền để hưởng tô thuế), ruộng công điền của làng xã (do làng quản lý và phân phối hoa lợi); ngoài ra còn ít ruộng của họ tộc, ruộng của chùa và ruộng tư.
Như thế, chế độ công điền là một hình thức sở hữu toàn dân, kiểu công xã. Quá trình tư hữu hóa ruộng đất ở Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong bài Phong trào cộng sản quốc tế: “Về của cải tư hữu, luật pháp An Nam cấm mua bán toàn bộ đã đai. Hơn nữa, một phần tư đất trồng trọt bắt buộc phải để làm của chung. Cứ ba năm người ta chia lại ruộng đất đó.
Mỗi người dân trong xã thôn được nhận một phần. Điều đó không hề ngăn cản một số người trở nên giàu có, vì còn ba phần tư đất đai khác có thể mua bán, nhưng nó có thể cứu nhiều người khác thoát khỏi cảnh bần cùng”. Như vậy, chừng nào chế độ công điền còn tồn tại, cứ ba năm chia lại một lần, bất kỳ ai cũng được nhận một phần như nhau thì chừng đó mối liên hệ cá nhân- cộng đồng được gắn kết bởi chế độ ruộng công, vẫn còn được duy trì. Như vậy, chế độ công điền và những tàn dư của công xã nông thôn Việt Nam đã tồn tại kéo dài cho đến giữa thế ký XX và đó chính là cơ sở kinh tế- xã hội đã tạo nên tinh thần cố kết cộng đồng bền chặt của người dân Việt Nam.
° Hồ Chí Minh, Todn tap, sdd, t. Do nghề trồng lúa nước đòi hỏi phải tôn trọng thời tiết, canh tác theo đúng lịch nông nghiệp. Do vậy, để bảo vệ cuộc sống và sản xuất nông nghiệp, từ rất sớm người Việt cổ đã tự nguyện liên kết với nhau trong cuộc chỉnh phục thiên nhiên, đắp đê phòng lụt. Cùng với sự cố kết trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, sự đoàn kết tự nguyện trong chống thiên tai, lũ lụt được coi là những yếu tố hình thành sớm quốc gia, dân tộc.
Nếu chế độ công điền là cơ sở tạo nên mối quan hệ cộng đồng ở cấp làng xã thì công cuộc trị thủy là nhân tố quan trọng hình thành nên tỉnh thần cô kết cộng đồng ở cấp quốc gia. Chủ nghĩa yêu nước, tỉnh thần đoàn kết cộng đồng, sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong hoạn nạn khó khăn, là thang giá trị cao nhất của truyền thống Việt Nam đồng thời là một nhân tố cơ bản của tư tưởng xã hội chủ nghĩa sơ khai ở Việt Nam. Truyền thống đó là cơ sở thuận lợi để Hồ Chí Minh tiếp thu, phát triển và đưa chủ nghĩa xã hội vào nước ta.