Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh: Bài 2 - Độc lập dân tộc gắn liền CNXH

Tìm hiểu sâu về tư tưởng Hồ Chí Minh: độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Phân tích triết lý cách mạng, mục tiêu giải phóng dân tộc và con

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
177
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp cách mạng. Tư tưởng này hình thành từ thực tiễn nước mất nhà tan cuối thế kỷ XIX. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản đều thất bại. Phan Bội Châu chọn con đường bạo động. Phan Chu Trinh chọn cải cách ôn hòa. Cả hai đều bế tắc. Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin năm 1920. Luận cương của Lênin soi sáng con đường giải phóng dân tộc. Từ đó, độc lập dân tộc được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản. Đây là phát hiện lớn của Hồ Chí Minh. Độc lập không tách rời chủ nghĩa xã hội. Hai mục tiêu này thống nhất chặt chẽ. Tư tưởng ấy trở thành đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.

1.1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng

Cuối thế kỷ XIX, đất nước rơi vào ách thống trị thực dân Pháp. Phong trào Cần Vương bùng nổ khắp nơi. Đinh Công Tráng dựng căn cứ Ba Đình ở Thanh Hóa. Hoàng Hoa Thám lãnh đạo khởi nghĩa Yên Thế gần ba mươi năm. Các cuộc đấu tranh đều bị dập tắt. Khủng hoảng đường lối kéo dài dai dẳng. Dân tộc cần một hướng đi mới. Hồ Chí Minh xuất hiện đúng lúc lịch sử đòi hỏi. Người tổng kết thất bại của các bậc tiền bối. Từ đó Người xác lập con đường cách mạng vô sản cho dân tộc Việt Nam.

1.2. Cốt lõi của tư tưởng độc lập dân tộc

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh. Đây là đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp và trước hết. Chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu tiếp theo. Hai yếu tố nương tựa vào nhau. Độc lập tạo tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội củng cố và giữ vững nền độc lập. Tư tưởng này định hình toàn bộ chiến lược cách mạng. Nó dẫn dắt dân tộc qua mọi giai đoạn lịch sử.

II. Nội dung cơ bản tư tưởng về chủ nghĩa xã hội

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện qua hai luận điểm lớn. Thứ nhất, độc lập dân tộc là mục tiêu trước hết và là tiền đề. Không có độc lập thì không thể nói đến điều gì khác. Độc lập phải thật sự và hoàn toàn. Quyền tự quyết thuộc về nhân dân. Thứ hai, chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu. Độc lập mà dân vẫn đói nghèo thì độc lập không có ý nghĩa. Chủ nghĩa xã hội đem lại cơm áo và tự do thực sự. Nó là cơ sở vững chắc để giữ nước. Hai mục tiêu này không thể tách rời. Tách rời độc lập khỏi chủ nghĩa xã hội sẽ rơi vào bế tắc. Lịch sử các phong trào trước đã chứng minh điều đó. Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có con đường này mới giải phóng triệt để dân tộc và con người. Đây là chân lý của thời đại.

2.1. Độc lập dân tộc là tiền đề tiên quyết

Hồ Chí Minh đặt độc lập dân tộc lên hàng đầu. Đây là mục tiêu trực tiếp và cấp bách nhất. Không giành được độc lập thì mọi mục tiêu khác đều vô nghĩa. Độc lập phải gắn với quyền tự do và dân chủ của nhân dân. Người từng gửi yêu sách đến Hội nghị Vécxây. Yêu sách đòi quyền tự quyết cho dân An Nam. Các nước đế quốc làm ngơ. Từ đó Người rút ra bài học sâu sắc. Dân tộc muốn giải phóng phải dựa vào sức mình. Không thể trông chờ vào lòng tốt của kẻ khác.

2.2. Chủ nghĩa xã hội bảo đảm độc lập bền vững

Chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu của độc lập dân tộc. Độc lập chỉ trọn vẹn khi dân được ấm no và hạnh phúc. Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ áp bức và bóc lột. Nó mang lại đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đồng thời nó củng cố nền độc lập vừa giành được. Một đất nước giàu mạnh mới đủ sức bảo vệ chủ quyền. Điều kiện bảo đảm gồm vai trò lãnh đạo của Đảng. Cùng với đó là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nền tảng giữ vững thành quả cách mạng.

III. Vận dụng tư tưởng độc lập dân tộc hiện nay

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ cấp thiết. Tình hình thế giới biến động phức tạp. Các thế lực thù địch chống phá nhiều mặt. Việc kiên định mục tiêu càng trở nên quan trọng. Đảng và Nhà nước xác định đây là định hướng đúng đắn. Con đường này được khẳng định qua các kỳ Đại hội. Thực tiễn đòi hỏi giữ vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cần đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Đồng thời phải chăm lo đời sống nhân dân. Công tác xây dựng Đảng được đặt lên hàng đầu. Đấu tranh chống tham nhũng và tiêu cực không khoan nhượng. Mỗi cán bộ nâng cao ý thức trách nhiệm. Vận dụng sáng tạo tư tưởng vào từng nhiệm vụ cụ thể. Đó là cách thiết thực nhất để hiện thực hóa di sản của Người.

3.1. Kiên định mục tiêu trong tình hình mới

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là yêu cầu hàng đầu. Bối cảnh quốc tế đầy thách thức và cơ hội đan xen. Toàn cầu hóa mở ra nhiều cánh cửa hợp tác. Nhưng nó cũng tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình. Mục tiêu của chúng là phủ nhận con đường đã chọn. Vì vậy phải giữ vững lập trường tư tưởng. Phải tin tưởng vào con đường cách mạng. Đây là định hướng nhất quán không thay đổi. Đó là ngọn cờ dẫn dắt mọi thắng lợi.

3.2. Nhiệm vụ thực hiện mục tiêu cách mạng

Thực hiện mục tiêu cách mạng đòi hỏi nhiều nhiệm vụ đồng bộ. Trước hết là phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Kinh tế mạnh là nền tảng của độc lập tự chủ. Tiếp đến là giữ vững ổn định chính trị và xã hội. Quốc phòng và an ninh phải được củng cố thường xuyên. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần được mở rộng. Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng giữ vai trò then chốt. Phòng chống tham nhũng được tiến hành quyết liệt. Chăm lo an sinh xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân. Đó là những việc làm cụ thể và thiết thực.

IV. Kết luận và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mang giá trị bền vững. Đây là sự lựa chọn của lịch sử và của nhân dân. Tư tưởng này đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945. Hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc toàn thắng. Công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu to lớn. Tất cả đều dựa trên nền tảng tư tưởng ấy. Giá trị của tư tưởng không chỉ thuộc về quá khứ. Nó tiếp tục soi đường cho hiện tại và tương lai. Mỗi người dân cần nhận thức rõ ý nghĩa này. Cần biến nhận thức thành hành động cụ thể. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là việc làm thiết thực. Giữ vững độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội là trách nhiệm chung. Đó là cách tri ân di sản vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn lâu dài

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội có giá trị kép. Về lý luận, nó làm phong phú kho tàng chủ nghĩa Mác - Lênin. Nó giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Về thực tiễn, nó là cẩm nang hành động cho cách mạng. Tư tưởng này được kiểm nghiệm qua nhiều thập kỷ. Mọi thắng lợi lớn đều bắt nguồn từ đây. Giá trị ấy vượt thời gian và không gian. Nó vẫn nguyên ý nghĩa trong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay. Đây là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc.

4.2. Trách nhiệm của thế hệ hôm nay

Thế hệ hôm nay gánh trên vai trách nhiệm lớn lao. Đó là giữ gìn và phát huy thành quả cách mạng. Mỗi cán bộ và đảng viên phải gương mẫu đi đầu. Học tập tư tưởng phải gắn với việc làm cụ thể hằng ngày. Thanh niên cần ra sức học tập và lao động sáng tạo. Nhân dân chung sức xây dựng quê hương giàu mạnh. Bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là nghĩa vụ thiêng liêng. Kiên định con đường đã chọn là cách tri ân thiết thực. Tinh thần ấy cần được truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Tư tưởng hồ chí minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu công cuộc xâm lược Việt Nam. Trước sự kháng cự của quân đội triều đình nhà Nguyễn, nhất là tinh thần chiến đấu anh dũng của nhân dân Đà Nẵng, quân Pháp phải chuyển hướng tấn công về phía Nam, sau đó mở rộng ra miền Trung và miền Bắc Hình ảnh Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công vào Đà Nẵng qua các bức ký họa được lưu giữ tại Bảo tàng Đà Nẵng Những khẩu súng thần công này đã trút bão lửa vào chiến thuyền của Liên quân Pháp - Tây Ban Nha, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Đà Nẵng PHÁP XÂM LƯỢC ViỆT NAM Triều đình Nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp với các điều ước năm 1862 (Nhâm Tuất), 1874 (Giáp Tuất), 1883 (Hắc măng) và hiệp ước Patơnốp ký ngày 6/6/1884 là văn bản chính thức triều đình nhà Nguyễn công nhận quyền thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam. Sau đó thực dân Pháp từng bước thiết lập sự thống trị trên đất nước ta Nội dung hiệp ước Patơnốt gồm 19 điều khoản, với nội dung cơ bản sau đây: Nước An Nam chấp nhận sự “bảo hộ” của Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho An Nam trên quan hệ ngoại giao (kể cả với Trung Quốc); An Nam bị chia ra làm ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Mỗi Kỳ có một chế độ cai trị khác nhau, Nam Kỳ là đất thuộc địa thuộc Pháp; Bắc Kỳ là đất “nhượng địa” và Trung Kỳ là đất “bảo hộ”, về danh nghĩa triều đình nhà Nguyễn được quyền cai trị, nhưng thực chất cả nước Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp. Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào kháng chiến chống thực dân đã nổ ra mạnh mẽ Phong trào Cần Vương (7-1885) của vua Hàm Nghi, kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp, hàng trăm cuộc khởi nghĩa dưới ngọn cờ phong kiến đã nổ ra ở khắp Bắc - Trung - Nam + Phong trào Cần Vương (1885-1896) Hàm Nghi (1871 – 1943) Tôn Thất Thuyết (1835 – 1913) Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Ba Đình, Bãi Sậy và cuộc khởi nghĩa lớn nhất kéo dài suốt thời Cần Vương là khởi nghĩa Hương Khê của Tiến sĩ Phan Đình Phùng đến năm 1896 tiếng súng cuối cùng chấm dứt Nguyễn Thiện Thuật (1844- 1926), thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương. Nguyễn Thiện Thuật từ TQ trở về nước, tổ chức phong trào chống Pháp ở Hưng Yên, Hải Dương và một phần các tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Yên.

Vua Hàm Nghi phong cho ông làm Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần, gia trấn Trung tướng quân, nên nhân dân còn gọi ông là quan Hiệp thống. Đinh Công Tráng (1842 – 1887) - Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Ba Đình trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX Hưởng ứng phong trào, tháng 2 năm 1886, Đinh Công Tráng cùng với Trần Xuân Soạn và một số văn thân, thổ hào yêu nước như: Phạm Bành, Nguyễn Khế, Hà Văn Mao (người dân tộc Mường), Cầm Bá Thước (người dân tộc Thái), Hoàng Bật Đạt, Lê Toại lập chiến khu kháng chiến, căn cứ thuộc ba làng là: làng Mậu Thịnh, làng Thượng Thọ và Mỹ Khê (vì mỗi làng có một ngôi đình, từ đình làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia nên gọi là căn cứ Ba Đình. Nay thuộc xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa) làm căn cứ kháng chiến lâu dài. + Phong trào tự phát của nông dân Yên Thế (Bắc Giang) gần 30 năm (1884 – 1913) vẫn mang nặng cốt cách phong kiến Hoàng Hoa Thám (Đề Thám) + Xu hướng bạo động của Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo Phan Bội Châu lập Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906 – 1908), lập Việt Nam Quang phục hội (1912) Phan Bội Châu “Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

(1867 - 1940) + Xu hướng cải cách – canh tân đất nước của Phan Chu Trinh và một số nhà yêu nước Phan Chu Trinh với phong trào Duy tân (1906 – 1908) mở trường Đông kinh nghĩa thục: “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. “Chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương” Phan Chu Trinh (1872 - 1926) Trụ sở của Đông kinh Nghĩa thục ở phố Hàng Đào - Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng 1927 – 1930: phong trào cách mạng quốc gia tư sản. Việt Nam quốc dân Đảng (25 – 12 – 1927) “Ông vua đường thủy” Bạch Thái Bưởi Phạm Hồng Thái Nguyễn Thái Học Nguyễn An Ninh Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930) với khẩu hiệu không thành công cũng thành nhân Di tích Khởi Nghĩa Yên Bái 10/2/1930 Khởi nghĩa Yên Bái thất bại-chứng tỏ hệ tư tưởng tư sản hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ “Không thành công cũng thành nhân" biểu lộ tính chất giải phóng dân tộc hấp tấp, hăng hái nhất thời, không vững chắc, non yếu của phong trào tư sản 1 yêu Các phong trào nước liên tục nổ ra khắp cả nước 2 Hồ Chí Minh đánh giá về con đường cứu nước của: - Phan Bội Châu: “Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. - Phan Chu Trinh: “Chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương” - Hoàng Hoa Thám: “ Vẫn nặng về cốt cách phong kiến” => Tất cả các phong trào đấu tranh đều thất bại Nguyên nhân? + Chưa tập hợp được đông đảo Nhân dân.

+ Thiếu lực lượng lãnh đạo + Chưa có đường lối, phương pháp đúng đắn. Trăn trở với vận mệnh đất nước bị xâm lăng, nhân dân lầm than, cực khổ, Nguyễn Tất Thành nung nấu quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Không hướng về phương Đông truyền thống, Người quyết định sang Pháp, nơi sinh ra chủ nghĩa thực dân, quê hương của cuộc cách mạng tư sản Pháp, để “tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những Tự do, Bình đẳng, Bác ái”; “xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào” (Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.Văn học, Hà Nội, 1969, tr. HỒ CHÍ MINH XÁC LẬP ĐƯỜNG LỐI, MỤC TIÊU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam 1. Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước và nghiên cứu kinh nghiệm các cuộc cách mạng trên thế giới Người đã đi đến nhiều nước, nhiều châu lục. Vừa lao động kiếm sống, vừa nghiên cứu, học hỏi thực tiễn, Người đã tích lũy và chắt lọc cho vốn tri thức của mình các nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là kinh nghiệm của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới. “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.

274) => Người rút ra kết luận: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai” (Hồ Chí Minh: Sđd, tr. 270) => Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam” (Hồ Chí Minh: Sđd, tập. 270) Người nói: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” (Hồ Chí Minh: Sđd, tập.

280) => Nguyễn Ái Quốc nhận thấy, Việt Nam muốn giành độc lập, tự do phải đi theo con đường cách mạng vô sản, đi theo con đường Tháng Mười Nga. HỒ CHÍ MINH XÁC LẬP ĐƯỜNG LỐI, MỤC TIÊU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam 1. Hồ Chí Minh khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam là con đường cách mạng vô sản - Ngày 18/6/1919, Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị Bản Yêu sách của nhân dân An Nam (gồm 8 điểm).

Bản Yêu sách. yêu cầu chính quyền thực dân trả tự do cho các tù chính trị; đề cập đến những vấn đề sơ đẳng nhất về quyền tự do, dân chủ, về quyền tự quyết của nhân dân An Nam Yêu sách của nhân dân An Nam không được Hội nghị Vécxây xem xét đến, từ thực tiễn đó, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra nhận xét: • Chủ nghĩa Uyn-xơn chỉ là một trò lừa bịp lớn; và các dân tộc thuộc địa muốn được giải phóng phải dựa vào chính mình. • Người khẳng định, nhân dân các dân tộc thuộc địa muốn giành được độc lập, phải chủ động, tự chủ, không thể trông chờ vào người khác - Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, và tham gia Tiểu Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Xã hội Pháp. - Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (cuối tháng 12- 1920) diễn ra ở thành phố Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia quốc tế III và thành lập Đảng Cộng sản Pháp.

Đây là sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong tư tưởng từ người yêu nước, trở thành người cộng sản, đồng thời xác lập cơ sở lý luận cho cách mạng Việt Nam, theo chủ nghĩa Mác-Lênin • Sau này, Hồ Chí Minh đã nói: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III” ( Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 10, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, XB lần thứ 3, 2011, trang 127)) - Ngày 16 -17 tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đã đọc Những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.Lênin đăng trên báo Lumanite (L Humalité, báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp) Đọc đi đọc lại nhiều lần, Người nhận rõ Luận cương của V.Lênin soi sáng con đường giải phóng dân tộc mình

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ