Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế hiện đại, đấu thầu qua mạng được xác định là xu thế tất yếu của hoạt động quản lý công, giữ vai trò quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh cải cách hành chính. Tại Việt Nam, quy mô giá trị các gói thầu thực hiện theo Luật Đấu thầu chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế, tương đương khoảng 20% GDP hàng năm (hơn 20 tỷ USD). Việc áp dụng phương thức đấu thầu qua mạng giúp tối ưu hóa chi phí ngân sách, đồng thời ngăn chặn các hành vi tiêu cực, gian lận, tình trạng "quân xanh, quân đỏ", thông thầu và lợi ích nhóm.
Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia ban đầu (VNEPS) được xây dựng từ năm 2009 với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA), dựa trên nền tảng Hệ thống mua sắm chính phủ điện tử Hàn Quốc (KONEPS). Dù đã tạo tiền đề chuyển đổi từ đấu thầu truyền thống sang môi trường điện tử, hệ thống VNEPS sau nhiều năm vận hành đã bộc lộ những rào cản kỹ thuật như chỉ tương thích với trình duyệt Internet Explorer, dung lượng tệp tin đính kèm còn hạn chế và thiếu các tính năng liên thông thanh toán ngân hàng trực tuyến. Trước yêu cầu phát triển thực tiễn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Trung tâm Đấu thầu qua mạng quốc gia đã phối hợp nghiên cứu, triển khai Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia mới (e-GP) theo mô hình đối tác công tư (PPP). Khóa luận tập trung phân tích thực trạng này nhằm đánh giá bước chuyển dịch công nghệ trong mua sắm công tại Việt Nam.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể theo các nội dung sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đấu thầu, đấu thầu qua mạng và hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
- Đánh giá thực trạng công tác đấu thầu qua mạng trên hệ thống VNEPS tại Việt Nam thông qua số liệu thực tế.
- Giới thiệu tổng quan về cấu trúc, tiêu chuẩn kỹ thuật và các phân hệ của Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia mới (e-GP).
- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu thầu qua mạng và hoạt động mua sắm công tại Việt Nam trên nền tảng e-GP.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác đấu thầu qua mạng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia VNEPS; các đặc điểm, phân hệ chức năng của Hệ thống đấu thầu qua mạng e-GP và các giải pháp nâng cao hoạt động mua sắm công trên hệ thống mới.
- Phạm vi nội dung: Các vấn đề lý luận về đấu thầu, đấu thầu qua mạng, các hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu; cơ chế vận hành của hệ thống công nghệ thông tin và mạng lưới các đơn vị kết nối dữ liệu liên thông.
- Phạm vi không gian: Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tại Việt Nam, gắn với chức năng quản lý, vận hành của Trung tâm Đấu thầu qua mạng quốc gia thuộc Cục Quản lý đấu thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
- Phạm vi thời gian: Khóa luận tập trung khai thác và phân tích chuỗi dữ liệu thực tế giai đoạn 2019–2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên nền tảng pháp lý và các quy định quản lý nhà nước hiện hành về đấu thầu tại Việt Nam, bao gồm:
- Luật Đấu thầu năm 2013 (Luật số 43/2013/QH13): Sử dụng khái niệm đấu thầu (Khoản 12 Điều 4) và đấu thầu qua mạng (Khoản 13 Điều 4); quy định về tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư (Điều 5); các phương thức lựa chọn nhà thầu (Điều 28 đến Điều 31); các hình thức hợp đồng trong đấu thầu (hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo thời gian, hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh).
- Luật Thương mại năm 2005: Quy định về bản chất thương mại của quan hệ đấu thầu và các bên tham gia.
- Các văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC; Quyết định số 1402/QĐ-TTg ngày 13/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể và lộ trình áp dụng đấu thầu qua mạng giai đoạn 2016–2025; Thông tư số 11/2019/TT-BKHĐT quy định chi tiết lộ trình áp dụng lựa chọn nhà thầu qua mạng giai đoạn 2020–2025; Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ; Thông tư số 39/2017/TT-BTTTT ban hành danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước; Quyết định số 1248/QĐ-BKHĐT ngày 24/8/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Đấu thầu qua mạng quốc gia.
- Khung nguyên tắc cốt lõi: Phân tích 5 nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đấu thầu gồm cạnh tranh, công bằng, công khai, minh bạch và hiệu quả kinh tế; nguyên tắc văn bản điện tử giao dịch qua mạng có giá trị pháp lý tương đương văn bản gốc.
- Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho hệ thống mới: Tiêu chuẩn quản lý vận hành ITIL, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015, tiêu chuẩn hạ tầng trung tâm dữ liệu TIA 942 - Tier 3.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong khóa luận bao gồm:
- Phương pháp phân tích lý thuyết: Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị định và thông tư liên quan đến quy trình lựa chọn nhà thầu và khung thể chế mua sắm công điện tử.
- Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, phân loại và xử lý các số liệu thứ cấp phản ánh hoạt động đấu thầu qua mạng theo số lượng gói thầu, tổng giá trị, lĩnh vực hoạt động (hàng hóa, xây lắp, tư vấn, phi tư vấn) và các hình thức lựa chọn nhà thầu (đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh).
- Phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp: Đối chiếu số liệu năm 2020 với năm 2019; so sánh tỷ lệ thực hiện thực tế với các chỉ tiêu đặt ra tại Nghị quyết 01/NQ-CP; so sánh đặc tính kỹ thuật, kiến trúc phân hệ, phương thức xác thực và khả năng kết nối giữa hệ thống VNEPS cũ và hệ thống e-GP mới.
Nguồn dữ liệu: Toàn bộ số liệu thực tiễn được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia do Trung tâm Đấu thầu qua mạng quốc gia (Cục Quản lý đấu thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) quản lý, số liệu công khai trên Báo Đấu thầu và khảo sát chi phí thực tế của các doanh nghiệp tham gia đấu thầu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số cơ sở lý luận về đấu thầu qua mạng
Chương này tập trung trình bày các khái niệm nền tảng, bản chất kinh tế - pháp lý và quy trình của hoạt động đấu thầu:
- Làm rõ bản chất của đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu kinh tế - kỹ thuật của chủ đầu tư, mang tính chất của một giao dịch thương mại trong giai đoạn tiền hợp đồng. Khẳng định 4 nội dung cốt lõi: hiệu quả, cạnh tranh, công bằng và minh bạch.
- Phân tích vai trò của đấu thầu đối với ba chủ thể: chủ đầu tư (tiết kiệm vốn đầu tư, quản lý tiến độ và chất lượng, nâng cao năng lực cán bộ), nhà thầu (thúc đẩy tự hoàn thiện năng lực kỹ thuật và quản trị chi phí để hạ giá bỏ thầu) và nền kinh tế quốc dân (nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước, phòng ngừa thất thoát lãng phí).
- Luận giải khái niệm đấu thầu qua mạng là một thành phần trọng yếu của Chính phủ điện tử. Hệ thống hóa những ưu điểm vượt trội so với đấu thầu truyền thống: rút ngắn thời gian quy trình (trung bình đấu thầu truyền thống mất 45 ngày), giảm thiểu chi phí in ấn và đi lại, chống gian lận, loại bỏ can thiệp chủ quan khi phát hành và tiếp nhận hồ sơ.
- Trình bày chi tiết các hình thức lựa chọn nhà thầu: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế (mời tối thiểu 5 nhà thầu), chỉ định thầu (áp dụng cho sự cố bất khả kháng, dự án cấp bách, bí mật quốc gia hoặc gói thầu quy mô nhỏ dưới hạn mức), mua sắm trực tiếp (trong vòng 6 tháng kể từ hợp đồng tương tự trước đó), chào hàng cạnh tranh (gói thầu dưới 2 tỷ đồng, tối thiểu 3 báo giá), tự thực hiện và lựa chọn trong trường hợp đặc biệt.
- Phân tích 4 phương thức lựa chọn: một giai đoạn một túi hồ sơ, một giai đoạn hai túi hồ sơ, hai giai đoạn một túi hồ sơ, hai giai đoạn hai túi hồ sơ; cùng 4 loại hợp đồng: hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo thời gian, hợp đồng theo đơn giá cố định và hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh.
Chương 2: Thực trạng triển khai hệ thống mạng đấu thầu VNEPS tại Việt Nam - Giới thiệu về hệ thống e-GP
Chương 2 phản ánh toàn diện thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong đấu thầu tại Việt Nam, nêu rõ lịch sử hình thành, phân tích số liệu năm 2020 và giới thiệu kiến trúc hệ thống e-GP:
- Giới thiệu mô hình tổ chức của Trung tâm Đấu thầu qua mạng quốc gia (thành lập theo Quyết định 1248/QĐ-BKHĐT ngày 24/8/2016 trên cơ sở nâng cấp Phòng Quản lý mạng đấu thầu), đơn vị vận hành cổng thông tin
muasamcong.vn. Khái quát 4 giai đoạn phát triển của hệ thống từ giai đoạn thí điểm (2009–2011), mở rộng toàn quốc (2012–2015), triển khai chính thức theo Quyết định 1402/QĐ-TTg (từ năm 2016) đến giai đoạn thực hiện lộ trình mới theo Thông tư 11/2019/TT-BKHĐT (từ năm 2020).
- Đánh giá thực trạng kết quả đấu thầu qua mạng năm 2020 trên hệ thống VNEPS:
- Tỷ lệ gói thầu áp dụng đấu thầu qua mạng đạt 86,6% về số lượng (98.547 gói thầu) và 54,6% về tổng giá trị (303.420 tỷ đồng). Có 84.818 gói thầu qua mạng đã công bố kết quả với tổng giá trị trúng thầu khoảng 259.000 tỷ đồng.
- So với năm 2019, số lượng gói thầu áp dụng đấu thầu qua mạng tăng hơn 2 lần và tổng giá trị gói thầu tăng 2,5 lần.
- Kết quả thực hiện năm 2020 đã vượt chỉ tiêu đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ: vượt 26,6% về số lượng gói thầu và vượt 29,6% về giá trị gói thầu.
- Cơ cấu theo lĩnh vực năm 2020:
- Lĩnh vực hàng hóa: 38.377 gói thầu (chiếm 39,09%), tổng giá gói thầu đạt 92.000 tỷ đồng.
- Lĩnh vực xây lắp: Số gói thầu tăng gấp đôi so với 2019, tổng giá trị các gói thầu đạt 175.000 tỷ đồng.
- Lĩnh vực phi tư vấn: Triển khai từ tháng 9/2020 đối với phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ, đạt 12.045 gói thầu (chiếm 12,64%), tổng giá trị 21.000 tỷ đồng.
- Lĩnh vực tư vấn: 10.272 gói thầu (chiếm 10,46%), tổng giá gói thầu là 12.000 tỷ đồng.
- Cơ cấu theo hình thức lựa chọn nhà thầu: Đấu thầu rộng rãi đạt 52.701 gói (chiếm 53,68%), chào hàng cạnh tranh đạt 35.379 gói (chiếm 36,04%), phần còn lại là chào hàng cạnh tranh rút gọn (hơn 10.000 gói).
- Tác động tiết kiệm kinh tế: Toàn bộ công tác đấu thầu qua mạng năm 2020 đã tiết kiệm được khoảng 1.725 tỷ đồng chi phí hành chính. Trong đó, thời gian lựa chọn nhà thầu giảm trung bình 6 ngày/gói so với đấu thầu truyền thống (tương đương trên 500 tỷ đồng quy đổi ngày công); mỗi doanh nghiệp dự thầu tiết kiệm 5 triệu đồng chi phí hành chính/gói, với mật độ tham gia trung bình 2,5 nhà thầu/gói trên hơn 98.000 gói thầu, tổng mức tiết kiệm cho doanh nghiệp đạt hơn 1.225 tỷ đồng.
- Chỉ ra các tồn tại của hệ thống VNEPS: Hệ thống xây dựng từ 2009 trên nền tảng KONEPS nên chỉ tương thích với trình duyệt Internet Explorer; tính năng tìm kiếm chưa tối ưu; dung lượng tệp tin thấp; chưa tích hợp chức năng liên kết ngân hàng điện tử để thu phí; tỷ lệ nhà thầu tham gia thực tế còn thấp (chỉ khoảng 30%, tương ứng 38.342 nhà thầu tham gia dự thầu trên tổng số 115.000 nhà thầu đăng ký); một số bên mời thầu chậm công khai thông tin, tải tệp tin đính kèm bị lỗi hoặc thiếu nội dung tiếng Anh đối với gói thầu quốc tế.
- Giới thiệu Hệ thống Ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm chính phủ (e-GP):
- Dự án xây dựng theo hợp đồng đối tác công tư (PPP) giữa Cục Quản lý đấu thầu (Bộ KH&ĐT) cùng Công ty TNHH Hệ thống thông tin FPT (FPT IS) và Doanh nghiệp dự án IDNES, ký kết đầu năm 2020, hoàn thành thiết kế chi tiết và tiến hành thử nghiệm vào tháng 7/2021, hướng tới vận hành chính thức cuối năm 2021.
- Hạ tầng kỹ thuật: Bao gồm Trung tâm dữ liệu chính (DC) và Trung tâm dữ liệu dự phòng thảm họa (DRC) đạt chuẩn quốc tế TIA 942 - Tier 3, vận hành theo tiêu chuẩn ITIL và ISO 9001:2015; áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật ứng dụng CNTT theo Thông tư 39/2017/TT-BTTTT; thiết kế tương thích đa trình duyệt web.
- Gồm 11 phân hệ chức năng hoàn chỉnh: Cổng thông tin (Portal), Quản lý người dùng (User Management), Hỗ trợ người dùng (Call Center), Đấu thầu điện tử (e-Bidding), Mua sắm điện tử (e-Shopping Mall), Quản lý hợp đồng qua mạng (e-Contract), Thanh toán điện tử (e-Payment), Danh mục sản phẩm (Item list/e-Catalog), Văn bản điện tử (e-Document), Quản lý năng lực nhà cung cấp (Supplier’s Performance Management), Bảo lãnh điện tử (e-Guarantee).
- Khả năng kết nối liên thông: Kết nối với Hệ thống thông tin Quản lý đăng ký kinh doanh, Hệ thống quản lý thuế và báo cáo tài chính của Tổng cục Thuế, Hệ thống thông tin quản lý ngân sách của Kho bạc Nhà nước, Cổng Dịch vụ công Bộ KH&ĐT, Hệ thống Báo Đấu thầu, Hệ thống Giám sát đầu tư công, Hệ thống NRBS và các ngân hàng liên kết thanh toán phí/bảo lãnh điện tử (BIDV, VPBank).
| Tiêu chí so sánh |
Hệ thống VNEPS (Cũ) |
Hệ thống e-GP (Mới) |
| Nền tảng công nghệ |
Xây dựng năm 2009 dựa trên hệ thống KONEPS (Hàn Quốc); chỉ tương thích trình duyệt Internet Explorer. |
Xây dựng theo tiêu chuẩn Thông tư 39/2017/TT-BTTTT; hạ tầng DC/DRC đạt chuẩn TIA 942 - Tier 3; tương thích đa trình duyệt. |
| Phân hệ chức năng |
Vận hành 4 phân hệ chính (Portal, User Management, e-Bidding, Call Center). |
Tích hợp đầy đủ 11 phân hệ chức năng từ lập kế hoạch, đấu thầu, ký hợp đồng điện tử đến thanh toán giải ngân. |
| Quản lý chứng thư số |
Chứng thư số lưu trữ cục bộ trực tiếp trên máy tính cá nhân của người sử dụng. |
Chứng thư số được quản lý tập trung trên hệ thống CA, người dùng không cần phụ thuộc thiết bị cá nhân. |
| Hồ sơ năng lực nhà thầu |
Nhà thầu tự kê khai thông tin thủ công vào hệ thống. |
Tự động trích xuất và xác thực dữ liệu năng lực từ cơ quan Thuế, Đăng ký kinh doanh nhằm giảm tải kê khai. |
| Khả năng kết nối chia sẻ |
Kết nối giới hạn với một số đơn vị chứng thực số, công ty bảo lãnh và ngân hàng. |
Mở rộng liên thông toàn diện với Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế, Cổng DVC, Giám sát đầu tư công, BIDV, VPBank. |
| Quy trình hợp đồng & thanh toán |
Chưa hỗ trợ quy trình hợp đồng số hóa toàn diện và thanh toán điện tử. |
Cung cấp công cụ thương thảo, ký kết hợp đồng qua mạng, theo dõi tiến độ và tích hợp cổng thanh toán trực tuyến. |
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
Chương 3 tổng hợp các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động đấu thầu qua mạng tại Việt Nam trên cơ sở chuyển đổi sang hệ thống e-GP:
- Đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách và chế tài pháp lý: Rà soát, ban hành các thông tư hướng dẫn chi tiết về quy trình nghiệp vụ trên nền tảng e-GP; áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với hành vi cố tình chậm đăng tải thông tin, tải tệp tin không đọc được hoặc không công khai kết quả lựa chọn nhà thầu.
- Tối ưu hóa hạ tầng và ứng dụng công nghệ: Triển khai vận hành an toàn hệ thống trung tâm dữ liệu chính (DC) và trung tâm dự phòng (DRC); nâng cấp giao diện người dùng trên nhiều trình duyệt; mở rộng dung lượng truyền và lưu trữ hồ sơ; tích hợp công cụ tra cứu, khai thác dữ liệu lớn phục vụ giám sát và thanh tra đấu thầu.
- Khai thác tối đa năng lực kết nối dữ liệu liên ngành: Hiện thực hóa việc chia sẻ thông tin liên thông với Tổng cục Thuế, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh và Kho bạc Nhà nước nhằm tự động hóa việc đánh giá năng lực tài chính, lịch sử tư cách pháp nhân và tiến độ giải ngân hợp đồng.
- Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng nhà thầu: Đẩy mạnh đào tạo, hướng dẫn sử dụng hệ thống e-GP cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; đơn giản hóa thủ tục dự thầu để nâng cao tỷ lệ nhà thầu tham gia thực chất (vượt trên mức 30% của năm 2020), từ đó gia tăng tính cạnh tranh và tỷ lệ tiết kiệm cho ngân sách nhà nước.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và công bố các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu thực tế của công tác đấu thầu qua mạng tại Việt Nam:
- Phản ánh thành tựu phát triển vượt bậc của năm 2020: Tỷ lệ đấu thầu qua mạng đạt 86,6% về số lượng và 54,6% về tổng giá trị; vượt mục tiêu của Chính phủ tại Nghị quyết 01/NQ-CP (vượt 26,6% về số lượng và 29,6% về giá trị gói thầu). Số lượng gói thầu tăng hơn 2 lần và giá trị tăng 2,5 lần so với năm 2019.
- Định lượng hóa lợi ích kinh tế: Đấu thầu qua mạng trong năm 2020 đã giúp tiết kiệm 1.725 tỷ đồng chi phí hành chính xã hội. Trong đó, thời gian lựa chọn nhà thầu được rút ngắn bình quân 6 ngày/gói (tương đương trên 500 tỷ đồng chi phí tiền lương/ngày công); các nhà thầu tiết kiệm được hơn 1.225 tỷ đồng chi phí hành chính trực tiếp (in ấn, đi lại, mua hồ sơ).
- Làm rõ cấu trúc phân bổ: Thống kê chính xác tỷ trọng theo lĩnh vực (hàng hóa chiếm 39,09% với 92.000 tỷ đồng; xây lắp chiếm 175.000 tỷ đồng; phi tư vấn chiếm 12,64%; tư vấn chiếm 10,46%) và hình thức đấu thầu (đấu thầu rộng rãi chiếm 53,68%; chào hàng cạnh tranh chiếm 36,04%).
- Nhận diện các điểm nghẽn hệ thống: Khái quát trung thực những hạn chế về hạ tầng công nghệ của hệ thống VNEPS cũ (phụ thuộc Internet Explorer, dung lượng thấp, chưa tích hợp thanh toán ngân hàng) và vấn đề chỉ có khoảng 30% nhà thầu đăng ký thực sự tham gia đấu thầu qua mạng.
Giải pháp và đóng góp do tác giả tự xác định:
- Vận dụng các kiến thức chuyên ngành về đấu thầu để làm rõ quy trình quản lý, vận hành thực tế tại Trung tâm Đấu thầu qua mạng quốc gia.
- Cung cấp cái nhìn toàn diện về dự án hợp tác công tư (PPP) giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư với liên danh FPT IS - IDNES trong việc xây dựng hệ thống e-GP đạt chuẩn TIA 942 - Tier 3 với 11 phân hệ hoàn chỉnh.
- Đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ thực tiễn công tác nhằm chuẩn bị điều kiện tốt nhất cho việc chuyển giao, vận hành hệ thống e-GP, góp phần nâng cấp hoạt động mua sắm công tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn và hướng mở do tác giả trình bày và xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn về khung thời gian và dữ liệu: Dữ liệu phân tích thực trạng chủ yếu tập trung vào giai đoạn 2019–2020. Nhiều bảng số liệu thống kê lịch sử giai đoạn 2009–2015 và các năm 2016–2018 chưa được điền đầy đủ dữ liệu chi tiết trong báo cáo.
- Giới hạn về kiểm chứng thực tế hệ thống e-GP: Tại thời điểm thực hiện đề tài (năm 2021), Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia e-GP mới cơ bản hoàn thành thiết kế chi tiết và bước vào giai đoạn kiểm tra thử nghiệm (dự kiến tháng 7/2021), chuẩn bị đưa vào vận hành chính thức cuối năm 2021. Do đó, các đánh giá về tính ưu việt của hệ thống e-GP chủ yếu dựa trên thiết kế kỹ thuật và mục tiêu dự án, chưa có số liệu thực nghiệm sau vận hành để đối chứng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Theo dõi, đánh giá hiệu quả vận hành thực tế của Hệ thống e-GP sau khi đưa vào sử dụng chính thức trên quy mô toàn quốc; khảo sát mức độ hài lòng và tính thân thiện của giao diện đối với bên mời thầu và nhà thầu; nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải ngân trực tuyến liên thông với Kho bạc Nhà nước và triển khai đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư bằng hình thức trực tuyến hoàn toàn.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng và mục đích nghiên cứu sau:
- Đối tượng tham khảo:
- Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế, Đấu thầu, Quản lý công, Luật kinh tế và Hệ thống thông tin quản lý cần tài liệu nghiên cứu thực tế về chuyển đổi số trong mua sắm chính phủ.
- Cán bộ nghiệp vụ tại các ban quản lý dự án, chủ đầu tư, bên mời thầu và các doanh nghiệp tham gia đấu thầu tìm hiểu lộ trình chuyển đổi giữa hai hệ thống mạng đấu thầu.
- Các nhà nghiên cứu về cải cách hành chính công, chính phủ điện tử và mô hình đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
- Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Bảng tổng hợp số liệu thực tế về quy mô gói thầu, tỷ lệ áp dụng và mức độ tiết kiệm chi phí hành chính năm 2020 của Việt Nam.
- Khung so sánh chi tiết giữa hệ thống VNEPS cũ và hệ thống e-GP mới về kiến trúc kỹ thuật, phương thức quản lý chứng thư số và liên thông dữ liệu.
- Hệ thống hóa các căn cứ pháp lý và lộ trình áp dụng đấu thầu qua mạng từ năm 2009 đến năm 2025.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong năm 2020, kết quả thực hiện đấu thầu qua mạng tại Việt Nam đạt được những chỉ tiêu nào so với mục tiêu của Chính phủ?
Theo số liệu thống kê trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, năm 2020 tỷ lệ gói thầu áp dụng đấu thầu qua mạng đạt 86,6% về số lượng (với 98.547 gói thầu) và đạt 54,6% về tổng giá trị (tương đương 303.420 tỷ đồng). So với mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ, kết quả thực tế đã vượt 26,6% về số lượng gói thầu và vượt 29,6% về giá trị gói thầu. Có 84.818 gói thầu đã có kết quả lựa chọn nhà thầu với tổng giá trị trúng thầu đạt khoảng 259.000 tỷ đồng.
2. Công tác đấu thầu qua mạng năm 2020 đã tiết kiệm được bao nhiêu chi phí hành chính cho xã hội và doanh nghiệp?
Tính chung trong năm 2020, việc triển khai đấu thầu qua mạng giúp tiết kiệm được 1.725 tỷ đồng chi phí hành chính. Trong đó, thời gian lựa chọn nhà thầu qua mạng rút ngắn trung bình 6 ngày so với đấu thầu truyền thống, quy đổi chi phí ngày công tương đương trên 500 tỷ đồng. Đối với các nhà thầu, khảo sát cho thấy mỗi gói thầu tham dự qua mạng giúp tiết kiệm được 5 triệu đồng chi phí in ấn, đi lại và mua hồ sơ; với mật độ trung bình 2,5 nhà thầu tham dự một gói trên quy mô hơn 98.000 gói thầu, tổng chi phí hành chính các nhà thầu tiết kiệm được đạt hơn 1.225 tỷ đồng.
3. Những hạn chế kỹ thuật lớn nhất của hệ thống mạng đấu thầu quốc gia VNEPS cũ là gì?
Hệ thống VNEPS được xây dựng từ năm 2009 dựa trên nền tảng KONEPS của Hàn Quốc nên có hạ tầng kỹ thuật đã lạc hậu. Hạn chế lớn nhất là chỉ tương thích với một trình duyệt duy nhất là Internet Explorer (IE), chức năng tìm kiếm thông tin chưa tối ưu, dung lượng lưu trữ tệp tin còn thấp và chưa có tính năng liên kết thanh toán chi phí trực tuyến qua ngân hàng. Ngoài ra, chứng thư số của người dùng phải lưu trữ trên thiết bị cá nhân, gây bất tiện trong quá trình thao tác và giao dịch.
4. Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia mới (e-GP) được đầu tư theo mô hình nào và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật gì?
Hệ thống e-GP được triển khai xây dựng theo mô hình đối tác công tư (PPP) với sự phối hợp giữa Cục Quản lý đấu thầu (Bộ KH&ĐT) cùng Công ty TNHH Hệ thống thông tin FPT (FPT IS) và Doanh nghiệp dự án IDNES. Về mặt hạ tầng, hệ thống gồm Trung tâm dữ liệu chính (DC) và Trung tâm dữ liệu dự phòng (DRC) tuân thủ tiêu chuẩn quản lý vận hành ITIL, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015, tiêu chuẩn hạ tầng trung tâm dữ liệu TIA 942 - Tier 3 và tiêu chuẩn công nghệ theo Thông tư số 39/2017/TT-BTTTT. Hệ thống được thiết kế chạy trên đa trình duyệt web.
5. Hệ thống e-GP gồm những phân hệ chức năng nào và kết nối với các cơ quan nào để xác thực dữ liệu?
Hệ thống e-GP gồm 11 phân hệ chức năng: Cổng thông tin (Portal), Quản lý người dùng (User Management), Hỗ trợ người dùng (Call Center), Đấu thầu điện tử (e-Bidding), Mua sắm điện tử (e-Shopping Mall), Quản lý hợp đồng qua mạng (e-Contract), Thanh toán điện tử (e-Payment), Danh mục sản phẩm (Item list), Văn bản điện tử (e-Document), Quản lý năng lực nhà cung cấp (Supplier’s Performance Management) và Bảo lãnh điện tử (e-Guarantee). Hệ thống kết nối chia sẻ dữ liệu trực tiếp với Hệ thống Quản lý đăng ký kinh doanh, Hệ thống quản lý thuế của Tổng cục Thuế, Hệ thống quản lý chi ngân sách của Kho bạc Nhà nước, Cổng Dịch vụ công Bộ KH&ĐT, Hệ thống Báo Đấu thầu, Hệ thống Giám sát đầu tư công và hệ thống ngân hàng (BIDV, VPBank).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Anh đã phản ánh toàn diện bức tranh chuyển đổi số trong lĩnh vực mua sắm công tại Việt Nam thông qua thực tiễn triển khai hệ thống mạng đấu thầu quốc gia VNEPS giai đoạn 2019–2020. Công trình đã lượng hóa được những kết quả nổi bật về mức tăng trưởng số lượng, giá trị gói thầu và hiệu quả tiết kiệm chi phí hành chính cho ngân sách cũng như doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra các rào cản kỹ thuật của nền tảng công nghệ cũ. Nghiên cứu đồng thời làm rõ mô hình kiến trúc, 11 phân hệ chức năng và khả năng kết nối dữ liệu liên ngành của Hệ thống e-GP mới, cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn về công tác đấu thầu qua mạng tại Việt Nam.