Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu 7 Chương 2: Lý luận chung về đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp Chương 3: Đánh giá năng lực tài chính các công ty tham gia đấu thầu dự án tại Ban QLDA Đầu tư và Xây dựng Chương 4: Giải pháp hoàn thiện đánh giá năng lực tài chính các đơn vị tham gia đấu thầu dự án tại Ban QLDA Đầu tư và Xây dựng 8 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm và ý nghĩa của đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp 2. Khái niệm năng lực tài chính Tài chính là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
Để đánh giá được năng lực tài chính, trước tiên chúng ta cần hiểu về quản lý tài chính. Theo học thuyết về quản lý của các nhà quản trị học hiện đại như: Taylor, Herry Fayol, Harold Koontz,… có thể khái quát: quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo yêu cầu của chủ thể quản lý tới đối tượng của quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong môi trường biến đổi. Theo học thuyết quản lý tài chính của mình, Era Solomon cho rằng: Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó. Theo đó, kế thừa quan điểm của học thuyết Era Solomon, năng lực tài chính trên quan điểm của Investopedia_ trang điện tử của IAC, một công ty mạng và truyền thông lớn nhất của Mỹ, trang điện tử lớn nhất thế giới cung cấp các kiến thức về tài chính, thì năng lực tài chính được hiểu là cụm từ mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiêp.
Tình trạng đó được phản ánh thông qua khả năng huy động vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh 9 doanh, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản của một doanh nghiệp. Theo như tác giả Phạm Thị Vân Anh (2012), Các giải pháp nâng cao năng lực tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay, Năng lực tài chính là năng lực đảm bảo nguồn lực tài chính của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp đề ra. Tác giả muốn nhấn mạnh nội hàm của năng lực tài chính trong khái niệm muốn đề cập đến hai vấn đề là khả năng huy động vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh và an toàn tình hình tài chính của doanh nghiệp Như vây, có thể đưa ra khái niệm về năng lực tài chính như sau: Năng lực tài chính là thuật ngữ mô tả tình trạng tài chính của doanh nghiệp. Tình trạng đó được phản ánh thông khả năng huy động vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản của một doanh nghiệp.
Mục tiêu của đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp Hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp bao gồm những nội dung cơ bản sau: xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, tìm kiếm và huy động nguồn vốn đáp ứng tốt nhu cầu và sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Hoạt động tài chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vai trò đó thể hiện ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, trong việc thiết lập các dự án đầu tư ban đầu, dự kiến hoạt động, gọi vốn đầu tư. Để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, thì các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định, bao gồm: vốn cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên dùng khác.
Ngoài ra doanh nghiệp cần phải có những giải pháp hữu hiệu để tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở 10 tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành luật pháp. Việc tiến hành đánh giá năng lực tài chính sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng của hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn các nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Từ đó, có những giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định và nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp đều có quyền bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh thì người ta chỉ quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các khía cạnh khác nhau như: các nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng.Nhưng vấn đề mà người ta quan tâm nhiều nhất là khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa của doanh nghiệp.
Bởi vậy, trong đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp thì cần phải đạt được các mục tiêu chủ yếu sau đây: + Một là: Khi đánh giá năng lực tài chính phải cung cấp đầy đủ, kịp thời, trung thực hệ thống những thông tin hữu ích, cần thiết phục vụ cho chủ doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm khác như: các nhà đầu tư, hội đồng quản trị doanh nghiệp, người cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên và những người sử dụng thông tin tài chính khác, giúp họ có quyết định đúng đắn khi ra quyết định đầu tư, quyết định cho vay. + Hai là: Đánh giá năng lực tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin quan trọng nhất cho các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, nhà cho vay và những người sử dụng thông tin tài chính khác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền vào, ra và tình hình sử dụng vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. 11 + Ba là: Đánh giá năng lực tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình, sự kiện, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp. Nhiệm vụ đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp Nhiệm vụ của đánh giá năng lực tài chính ở doanh nghiệp là căn cứ trên những nguyên tắc về tài chính doanh nghiệp để phân tích đánh giá tình hình thực trạng và triển vọng của hoạt động tài chính, chỉ ra được những mặt tích cực và hạn chế của việc thu chi tiền tệ, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố.
Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ sở dữ liệu để đánh giá năng lực tài chính Để có được đầy đủ thông tin phục vụ cho quá trình đánh giá năng lực tài chính thì cần phải thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, bao gồm thông tin từ hệ thống BCTC và các nguồn thông tin khác có tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ø Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là một bức tranh tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và các quan hệ tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm hay thời kỳ. BCTC được trình bày theo nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quy định.
Để đảm bảo yêu cầu chính xác và hợp lý, BCTC phải được lập và trình bày theo quy định của Bộ Tài chính. Theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành – Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, hệ thống BCTC áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau: Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN) 12 Bảng cân đối kế toán là Báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DN) Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm kết quả từ hoạt động kinh doanh chính và kết quả từ các hoạt động tài chính và hoạt động khác của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp giúp cho các đối tượng sử dụng BCTC có cơ sở để đánh giá khả năng tại tiền và sử dụng các khoản tiền đó trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09-DN) Thuyết minh BCTC là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của BCTC doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể.
Ø Nguồn thông tin khác Bên cạnh hệ thống BCTC, khi đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp, các nhà đánh giá còn kết hợp sử dụng các nguồn dữ liệu khác như báo cáo quản trị, tài liệu kế toán, tài liệu thống kê, hợp đồng…Về cơ bản, những 13 thông tin thu thập được có thể biểu hiện bằng số liệu cụ thể. Tuy nhiên có những thông tin không thể hiện bằng số liệu cụ thể.