Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ ở Việt Nam Trong Bối Cảnh Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu

Khám phá luận văn thạc sĩ về doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những thách thức hiện tại.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Ở Việt Nam

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Chúng không chỉ tạo ra việc làm mà còn góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, DNVVN chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp và tạo ra 60% việc làm trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, DNVVN đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn.

1.1. Khái Niệm Về Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ

DNVVN được định nghĩa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động hoặc doanh thu. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ có dưới 10 lao động, doanh nghiệp nhỏ từ 10 đến dưới 50 lao động, và doanh nghiệp vừa từ 50 đến 300 lao động.

1.2. Vai Trò Của Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Trong Kinh Tế

DNVVN không chỉ tạo ra việc làm mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ. Chúng đóng góp vào việc giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Sự phát triển của DNVVN cũng giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia.

II. Thách Thức Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Đối Mặt Trong Khủng Hoảng Kinh Tế

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tạo ra nhiều thách thức cho DNVVN tại Việt Nam. Thị trường tiêu thụ bị thu hẹp, chi phí sản xuất tăng cao, và khả năng tiếp cận vốn gặp khó khăn. Những yếu tố này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của DNVVN.

2.1. Khó Khăn Trong Tiếp Cận Thị Trường

Thị trường tiêu thụ bị thu hẹp do nhu cầu giảm sút. DNVVN gặp khó khăn trong việc duy trì khách hàng và tìm kiếm thị trường mới. Điều này dẫn đến doanh thu giảm và khả năng cạnh tranh yếu đi.

2.2. Vấn Đề Về Tài Chính

Khó khăn trong việc huy động vốn là một trong những thách thức lớn nhất. Các ngân hàng thắt chặt tín dụng, khiến DNVVN khó khăn trong việc vay vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

III. Cơ Hội Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Trong Khủng Hoảng Kinh Tế

Mặc dù gặp nhiều thách thức, DNVVN cũng có cơ hội để phát triển trong bối cảnh khủng hoảng. Việc chuyển đổi số và áp dụng công nghệ mới có thể giúp DNVVN nâng cao hiệu quả hoạt động và mở rộng thị trường.

3.1. Tận Dụng Công Nghệ Thông Tin

Việc áp dụng công nghệ thông tin giúp DNVVN tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản lý. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm.

3.2. Khai Thác Thị Trường Mới

Khủng hoảng cũng tạo ra cơ hội để DNVVN tìm kiếm thị trường mới. Việc mở rộng ra thị trường quốc tế có thể giúp DNVVN tăng trưởng bền vững hơn.

IV. Giải Pháp Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Trong Khủng Hoảng

Để giúp DNVVN vượt qua khủng hoảng, cần có các giải pháp hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức liên quan. Các chính sách hỗ trợ tài chính và đào tạo nguồn nhân lực là rất cần thiết.

4.1. Chính Sách Hỗ Trợ Tài Chính

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho DNVVN, bao gồm việc giảm lãi suất vay và cung cấp các gói tín dụng ưu đãi. Điều này sẽ giúp DNVVN duy trì hoạt động và phát triển.

4.2. Đào Tạo Nguồn Nhân Lực

Đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng giúp DNVVN nâng cao năng lực cạnh tranh. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ

Tương lai của DNVVN ở Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng với biến động của thị trường. Việc tận dụng cơ hội và khắc phục thách thức sẽ quyết định sự phát triển bền vững của DNVVN trong thời gian tới.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Đổi Mới Sáng Tạo

Đổi mới sáng tạo sẽ là chìa khóa giúp DNVVN phát triển. Các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm giải pháp mới để nâng cao hiệu quả hoạt động.

5.2. Hợp Tác Giữa Các Doanh Nghiệp

Hợp tác giữa các DNVVN có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp. Việc chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực sẽ giúp các doanh nghiệp vượt qua khó khăn và phát triển bền vững.

16/07/2025
Luận văn thạc sĩ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1.1 Khái luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Khái niệm và các tiêu chí xác định loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình.

Ở Việt Nam, theo Công văn số 681 /CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo đó doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn). Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ. Vì vậy, tiếp theo đó Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra chính thức định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.

Các doanh nghiệp cực nhỏ được quy định là có từ 1 đến 9 nhân công, doanh nghiệp có từ 10 đến 49 nhân công được coi là doanh nghiệp nhỏ. Đối với một số lĩnh vực có quy định cụ thể như sau: Theo cách chung nhất, phân loại doanh nghiệp phụ thuộc vào số người lao động hoặc số vốn kinh doanh. Tuy nhiên còn cách phân loại khác được sử 12 dụng trong các tài liệu phát triển đó là theo lĩnh vực chính quy và phi chính quy. Theo hướng này thì “phi chính quy” ám chỉ các doanh nghiệp nhỏ, một thành viên, thường làm việc bán thời gian hay theo thời vụ mà thông thường chúng không có tài sản cố định và có thể hoạt động tại gia đình.

Thêm vào đó các doanh nghiệp thường hoạt động dưới dạng không đăng ký chính thức và ngoài vòng kiểm soát của Chính phủ về mặt thuế và quản lý. Thuật ngữ doanh nghiệp nhỏ thường được sử dụng để nói đến thu nhập nhỏ phát sinh từ các hoạt động thuộc loại này. Khu vực doanh nghiệp “chính quy” thường được sử dụng để kể đến các loại hình và quy mô doanh nghiệp sử dụng một số lượng lao động lớn hơn, không điều hành hoạt động từ gia đình. Loại doanh nghiệp này phải chịu chi phối bởi pháp luật và có khả năng tiếp cận dễ dàng đến các thể chế tài chính và dự án phát triển.

Khái niệm thường được sử dụng cho doanh nghiệp chính quy là: “ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng, trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên thị trường để tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp”.2 Các tiêu chí xác định Trên thế giới, định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu và quy định khác nhau tuỳ theo từng nơi. Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế.

Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng có thể dựa vào các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó: Số lao động: có thể lao động trung bình trong danh sách, lao động thường 13 xuyên, lao động thực tế; Tài sản hay vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại; Doanh thu: có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm (hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ số này). Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động.

Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước. Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên. Ví dụ như một doanh nghiệp có 400 lao động ở Việt Nam không được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng lại được tính là doanh nghiệp vừa và nhỏ ở CHLB Đức. Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thấp hơn so với các nước phát triển.

Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện. Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại các doanh nghiệp vừa và nhỏ giữa các ngành với nhau. Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau. Ngoài ra có thể dùng khái niệm hệ số ngành (Ib) để so sánh đối chứng giữa các ngành khác nhau.

Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy mô doanh nghiệp cũng khác nhau. Do đó cần tính đến cả hệ số vùng (Ia) để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau. Bảng 1 : Tham khảo về tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước TÊN NƯỚC TIÊU CHÍ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ - Sản xuất : dưới 100 LĐ ÚC - Phi sản xuất: dưới 20 LĐ 14 - Doanh nghiệp nhỏ: dưới 100 LĐ MỸ - Doanh nghiệp vừa: 101-499 LĐ - Sản xuất:dưới 300 LĐ hoặc dưới 100 triệu Yên NHẬT - Bán lẻ, dịch vụ: dưới 50 LĐ hoặc dưới 10 triệu Yên CHLB ĐỨC - Dưới 500 LĐ - Công nghiệp, xây dựng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 300 LĐ - Khai khoáng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 500 LĐ ĐÀI LOAN - Thương mại, vận tải và dịch vụ khác: dưới 40 triệu NT$ doanh thu, dưới 50 LĐ (Nguồn :tổng hợp từ dữ liệu sưu tầm được qua các trang web trên mạng: www.vn …) Tính lịch sử: một doanh nghiệp trước đây được coi là lớn, nhưng với quy mô như vậy, hiện tại hoặc tương lai có thể được coi là vừa hoặc nhỏ. Như vậy trong việc xác định quy mô doanh nghiệp cần tính thêm hệ số tăng trưởng quy mô doanh nghiệp trung bình (Id) trong từng giai đoạn.

Hệ số này chỉ được sử dụng khi xác định quy mô doanh nghiệp cho các thời kì khác nhau. Mục đích phân loại: khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau tuỳ theo mục đích công việc phân loại. Như vậy có thể xác định được quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc một ngành hoặc một địa bàn cụ thể theo công thức sau: F(Sba) = Ib* Ia*Sa/ Id Trong đó: F(Sba): quy mô một doanh nghiệp thuộc một ngành và trên một lãnh thổ cụ thể. Ib,Ia,Id: tương ứng là hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô doanh nghiệp; Sa : quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế một 15 quốc gia, khu vực và toàn cầu. Ở Việt Nam, theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp Việt Nam được phân thành 4 nhóm tùy thuộc vào quy mô lao động, vốn và khu vực kinh tế mà họ hoạt động, cụ thể bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn. Bảng 2 : Tiêu chí phân loại doanh nghiệp tại Việt Nam Quy mô DN Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp Khu vực siêu nhỏ vừa lớn nhỏ Lao động Vốn Lao động Vốn Lao động Vốn Lao động I. Khu vực <=10 tỷ <=20 tỷ Trên 10 Trên 20 Trên Trên Trên nông,lâm dưới dưới 200 đến 100 tỷ 300 nghiệp và 200 100 tỷ 300 thủy sản II.

Khu vực <=10 tỷ <=20 tỷ Trên 10 Trên 20 Trên Trên Trên công nghiệp dưới đến 100 200 đến 100 tỷ 300 và xây dựng 200 tỷ 300 III. Khu vực <=10 tỷ <=10 tỷ Trên 10 Trên 10 Trên 50 Trên Trên thương mại, đến 50 tỷ đến đến 100 50 tỷ 100 dịch vụ 50 tỷ 1.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo ra những thay đổi trong công nghệ mới làm biến đổi kỹ thuật sản xuất và quản lý chung của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế. Thời kỳ phát triển công nghiệp, tư bản phải tích luỹ được một lượng tiền lớn để có thể mở đựơc công xưởng, mới có điều kiện, ứng dụng những thành tựu do cách mạng công nghiệp tạo ra. Đến giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền thì tư bản độc quyền công nghiệp phải dung hợp với tư bản độc quyền ngân hàng gọi là tư bản tài chính chiếm vị trí độc quyền và đứng vững trong cạnh tranh.

Trái lại, dưới tác động của cách mạng khoa học - công nghệ thì không hoàn toàn phải như vậy. Việc tìm ra những công nghệ hiện đại với chi phí thấp, cho phép không chỉ các doanh nghiệp có số vốn lớn mà ngay cả các doanh nghiệp trung bình, thậm chí loại nhỏ cũng có thể triển khai được việc ứng dụng. Hiệu quả ứng dụng nhiều khi còn cao hơn ở các doanh nghiệp lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ ở Việt Nam: Thách Thức và Cơ Hội Trong Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tài liệu nêu rõ những thách thức mà các doanh nghiệp này phải đối mặt, bao gồm khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, cạnh tranh gay gắt và sự thay đổi trong nhu cầu thị trường. Đồng thời, nó cũng chỉ ra những cơ hội mà DNVVN có thể tận dụng để phát triển bền vững, như việc áp dụng công nghệ mới và mở rộng thị trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Sơn La, nơi cung cấp thông tin về việc nâng cao nguồn nhân lực cho DNVVN. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNVVN. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cung cấp những giải pháp cụ thể để phát triển DNVVN trong khu vực này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về thách thức và cơ hội của DNVVN tại Việt Nam.