CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm doanh nghiệp Tại Điều 4 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 (sau đây gọi là Luật doanh nghiệp năm 2005) định nghĩa: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khái niệm, tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Có nhiều quan niệm khác nhau về DNNVV.
Tuy nhiên, đa phần các định nghĩa về DNNVV đều sử dụng số lượng lao động thường xuyên như là một tiêu chí ưu tiên, ngoài ra còn sử dụng quy mô vốn, quy mô doanh thu v.v… Đối với đa phần các quốc gia phát triển (Mỹ, Pháp, Nhật), những doanh nghiệp có số lao động từ 500 trở xuống thì được coi là có quy mô vừa và nhỏ, trong số đó những doanh nghiệp có số lao động 200 trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ. Các cách định nghĩa này cũng chỉ mang tính chất tương đối. Dựa theo quy mô có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Trong đó, việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một DNNVV có sự khác biệt ở các quốc gia trên thế giới.
Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó, tính đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh; mục đích phân định, mục tiêu của từng chính sách kinh tế, Luan van 5 chương trình trợ giúp của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp (Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực Quốc gia/ Phân loại Số lao động Vốn đầu tư Doanh thu khu vực DNNVV bình quân NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN 1. Hoa kỳ Nhỏ và vừa 0 – 500 Không quy Không quy định định 2. Nhật - Đối với ngành 1 – 300 ¥ 0 – 300 Không quy sản xuất triệu định - Đối với ngành 1 – 100 ¥ 0 – 100 TM triệu - Đối với ngành 1 – 100 ¥ 0 – 50 DV triệu 3.
EU Siêu nhỏ <10 Không quy Không quy định định Nhỏ <50 Vừa <250 < € 7 triệu < € 27 triệu 4. Australia Nhỏ và vừa <200 Không quy Không quy định định 5. Canada Nhỏ <100 Không quy <CDN$ 5 triệu định Vừa <500 CDN$ 5- 20triệu 6. New Nhỏ và vừa <50 Không quy Không quy Zealand định định 7.
Korea Nhỏ và vừa <300 Không quy Không quy Luan van 6 định định 8. Taiwan Nhỏ và vừa <200 <NT$ <NT$ 100triệu 80triệu B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1. Thái Lan Nhỏ và vừa Không quy Baht 200 Không quy định triệu định 2.
Malaysia Đối với ngành 0 – 150 Không quy RM 0 – 25 sản xuất định triệu 3. Philippine Nhỏ và vừa <200 Peso 1,5-60 Không quy triệu định 4. Indonesia Nhỏ và vừa Không quy <US$ 1 triệu <US$ 5 triệu định 5. Brunei Nhỏ và vừa 1 - 100 Không quy Không quy định định Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000.1 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô.
Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu lượng hóa bằng giá trị tiền tệ. Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát. nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp.
Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia. Số liệu ở Bảng 1.1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên. Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên. Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu.
Luan van 7 Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá. Theo World Bank, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người) [13]. Ở Việt Nam, từ năm 1998 trở về trước, nước ta chưa có văn bản nào quy định phân loại doanh nghiệp theo quy mô, mà chủ yếu phân loại doanh nghiệp theo 2 nhóm: doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Sự ra đời của công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày 20/06/1998 của Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV đã đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình thống nhất quan niệm và đẩy mạnh hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam.
Công văn số 681 quy định, DNNVV là doanh nghiệp có quy mô vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng và số lượng lao động bình quân năm ít hơn 200 người. Tuy nhiên, công văn này lại khẳng định, các tiêu thức này chủ yếu mang tính chất quy ước hành chính để phục vụ cho việc quản lý và vận dụng chính sách hỗ trợ phát triển. Bước sang năm 1999, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, môi trường kinh doanh được cải thiện đáng kể, bằng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi doanh nghiệp, thêm vào đó là sự ra đời của các luật thuế, các DNNVV đã có nhiều sự chuyển biến đột phá. Để phù hợp với xu thế mới, ngày 23/11/2001 Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP nhằm trợ giúp phát triển DNNVV.
Theo đó, Nghị định số 90 đã đưa ra tiêu chuẩn chính thức, áp dụng thống nhất để phân loại DNNVV. Tại Điều 3 của Nghị định này định nghĩa như sau: DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Luan van 8 Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Cùng với quá trình phát triển của đất nước, việc vận dụng Nghị định này vào thực tế đã không còn phù hợp, bộc lộ một số bất cập, nhất là trong vấn đề “Định nghĩa DNNVV”, dẫn đến gây khó khăn và lúng túng cho các doanh nghiệp và các cấp quản lý nhà nước trong vấn đề xác định tiêu chuẩn DNNVV, liên quan đến việc hưởng các chính sách ưu đãi của Chính phủ đối với loại hình doanh nghiệp này.
Vì lẽ đó, ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ. Nghị định số 56/2009/NĐ-CP có hai điểm mới nổi bật so với Nghị định số 90/2001/NĐ-CP: Một là, Nghị định đưa ra định nghĩa DNNVV. Hai là, việc thành lập Quỹ phát triển DNNVV. Tại Điều 3 Nghị định số 56 quy định: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Số lao Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động Khu vực động vốn vốn I.
Nông, lâm 10 người trở20 tỷ đồngtừ trên 10từ trên 20 tỷtừ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đếnđồng đến 100người đến Luan van 9 thủy sản 200 người tỷ đồng 300 người II. Công 10 người trở20 tỷ đồngtừ trên 10từ trên 20 tỷtừ trên 200 nghiệp và xây xuống trở xuống người đếnđồng đến 100người đến dựng 200 người tỷ đồng 300 người III. Thương 10 người trở10 tỷ đồngtừ trên 10từ trên 10 tỷtừ trên 50 mại và dịch xuống trở xuống người đếnđồng đến 50người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp. Đến thời điểm hiện nay, ở Việt Nam, tiêu chuẩn phân loại DNNVV vẫn được áp dụng theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV có các đặc điểm sau: - DNNVV chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp của cả nước, chủ yếu thuộc khu vực ngoài quốc doanh (NQD) với nhiều hình thức (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh). Đa số số liệu thống kê chủ yếu thống kê cho khu vực DN NQD, ít có số liệu điều tra riêng biệt cho toàn bộ các DNNVV. - Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, tốc độ đổi mới công nghệ chậm; Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất – kinh doanh. - Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế.