CHƯƠNG 1: ĐÔ THỊ HOÁ VÀ QUÁ TRÌNH TƯ HỮU HOÁ KHÔNG GIAN LÀNG NGỌC THAN Làng Ngọc Than mà định dạng hành chính ngày nay là một thôn” thuộc xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oal, Hà Nội. VỊ trí của làng nam cách trung tâm thị tran Quéc Oai 1,5 km về phía Tây Nam. Phía bắc giáp voi hai xã Phùng Xá, Binh Phú của huyện Thạch Thất. Phía nam giáp hai xã Nghĩa Hương, Can Hữu.
Phía đông giáp thôn Phú Mỹ. Phía tây giáp thôn Đồng But của xã Ngọc Liệp. Làng trước vốn chi là một làng nhỏ, nam doc hai bờ sông Ngọc. Con sông này từng là một tuyến đường thủy quan trọng của làng vì nối liền sông Tích với sông Day đồ ra sông Hồng, và cả vùng phên dau phía Tây với kinh thành Thăng Long.
Cái tên làng Than cũng bắt nguồn từ đây, chỉ làng ở ven bờ sông Ngọc”. Không gian công truyền thống làng Ngọc Than Với tính chất một ngôi làng cổ xứ Dodi, Ngọc Than như một sự lựa chọn kha quan dé có thé giúp nghiên cứu lam sáng rõ về không gian làng mạc cũng như linh hồn của làng quê Bắc Bộ. Mà cụ thé chính là sự hiện hữu mạnh mẽ cái thuộc về cộng đồng, tập thé. Hệ thống không gian công ở làng.
Sơ đồ dưới đây sẽ cho thấy hệ thống không gian công làng Ngọc Than một cách rõ nét. Tầm quan trọng hay tính công hữu của các không gian công với cộng đồng được thể hiện khá rõ qua các điều lệ trong hương ước làng Ngọc Than: Khoản 12: Các của công [19, tr 20] Điều 94: Đã gọi là của chung cả làng thì người trong làng ai cũng có nghĩa vụ phải giữ. Nếu ai làm ton hại thì phải bồi thường, còn những nơi đình, chùa, các sở công tuân phiên phải trông coi, không ai được chăn trâu, bò, vi phạm phạt cũng như điều 91 Ở trên noi; Điều 95: Khi làng có bán động sản hay bat động sản thì hội đồng đấu giá can nhưng yết thị cho mọi người déu biết trước khi dau giá 10 ngày; Điều 96: Khi đấu giá, ai hơn thì được mà hội dong phải làm biên bản đính vào giấy tình nguyện dé và công hàm lưu triểu số tién ban được bao nhiêu xung vào công quy. 5 Kiến giải của học giả Nguyễn Văn Vĩnh về “thôn” khá tương thích với trường hợp Ngọc Than: Thôn chỉ một làng nhỏ, ít ra là trên nguyên tắc, với tất các các chức năng của đơn vị hành chính cơ sở.
Nhưng đồng thời, thôn cũng, là một đơn vi địa vực nằm bên trong xã. Khác với xóm, thôn thường có đình, cũng như một số tập tục riêng, nên có bản sắc đôi khi khá đậm nét so với các thôn khác cùng xã. Trường hợp đó, thôn cũng tự xem như một làng, với nghĩa kèm theo đầy cảm xúc của từ này. 7 Than ÈÏÉ trong Ngọc Than -E #ƒÝ chữ Hán, chi đất ven nước sông hợp với Ngọc, thành nghĩa đất ven sông Ngọc.
16 Trải nghiệm qua từng không gian công truyền thống làng Ngọc Than là một cách dé CẦU BIA MÈ ° CẦU ĐÔNG VUONG Ban đồ 1: Hệ thống không gian công truyền thống làng Ngọc Than trước 1954 Nguồn: Ngô Thị Chang vẽ năm 2016 Chú thích: - ĐMI: Điêm xóm Quán DMS: Điêm xóm Giữa DM9: Điêm xóm Công G4: Giêng xóm O ĐM2: Điểm xóm Trại ĐM6: Diém xóm Hạ Khê GI: Giếng xóm Quán G5: Giếng xóm Ngánh DM3: Điếm xóm Chùa ĐM7: Điếm xóm Thượng Khê G2: Giếng xóm Chùa G6: Giếng xóm Thượng Khê ĐM4: Điếm xóm Ô DMB: Diém xóm Ngánh G3: Giếng tắm tượng (1) Dinh: Dinh Ngoc Than’ kiến trúc kiểu chữ quốc [E] trên mảnh đất 1,2 mẫu, ở phía Tây Bắc làng. Đình xây dựng năm Đức Nguyên thứ nhất, tức năm Giáp Dần (1674) dưới thời vua Lê Gia Tông (1672 - 1675). Theo Thần tích làng Ngọc Than, đình làng thờ hai vị Lý Bí và á thánh Phạm Tu. Vị thứ nhất là Lý Bí hiệu là Kiêm Tử, tên thường gọi là Tiền Ly Nam Dé.
Vị thứ hai là Phạm Tu tên là Phạm Chi. Phạm Tu là tướng tài của Lý Bí, có nhiều công, nhưng sau đó đã phải hy sinh. Hiệu Lý Nam Đề phong cho ông là Nam Hải đại vương. Hàng năm từ 13 đến 17 tháng giêng Âm lịch, làng Ngọc Than tổ chức lễ hội tung bừng, gọi là lễ Du xuân giao điệt (chơi xuân đánh vật) dé nhớ 8 Xem thêm ảnh phần phụ lục: hình 1; 2; 3; 4; 5; 6.
17 Pham Tu, một người văn võ song toàn và nồi tiếng về hai môn đánh vật, đánh gậy [23, tr 555]. Tổng thê đình được mở rộng nhiều lần. Năm Chính Hòa thứ tư, tức năm Quý Hợi (1683), đời vua Lê Hy Tông (1676 - 1705), đình được mở rộng quy mô lần thứ nhất. Năm Vĩnh Thịnh thứ 12, tức năm Đinh Dậu (1717), đời vua Lê Dụ Tông (1705 - 1729), đình được mở rộng quy mô lần thứ hai và được giữ nguyên cho đến nay.
Đình Ngọc Than là ngôi đình sàn gỗ độc đáo; người dân làng tin tưởng, đương thời có nhiều ngôi đình như thế nhưng đến nay, có lẽ chỉ còn đình Ngọc Than là ngôi đình duy nhất với kiểu đáng kiến trúc thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788) còn bảo tồn khá nguyên vẹn. Kiến trúc đình Ngọc Than được đánh giá là rất phóng khoáng, mỹ thuật công phu và điêu luyện, kết hợp hài hòa với thiên nhiên, dang vẻ thanh nhã mà vẫn bề thé, tôn nghiêm. Về giá trị kiến trúc của đình Ngọc Than tiêu biểu nhất là hệ thống vì kèo đều được dựng kiểu giá chiêng - kẻ suốt. Đây là một dạng thức kiến trúc độc đáo và trung thực nhất của ngôi đình được xây dựng vào thế ky XVII.
Về điêu khắc, đề tài rồng được sử dụng làm chủ dé trang trí cho nhiều mảng điêu khắc. Rồng ở đây được tac với nhiều tư thế: rồng nô đùa với các loài vật như than lăn, sóc, rồng ấn hiện trong mây,.Ở đình còn có những bức chạm nỗi, tượng tròn võ sĩ đánh hồ, cưỡi voi với phong cách rất tinh xảo. Đình Ngọc Than là một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của thế kỷ XVII còn hiện hữu [38, tr 420 - 421]. Đình được xây dựng ở một vi trí trung tâm cua làng và tọa lạc trên một khu đất rộng, trước cửa đình có một ao rộng, xung quanh khuôn viên đình từ xưa cô nhân đã xây tường đá ong có hệ thong cột trụ mở ba lối vào sân đình.
Khuôn viên đình bao gồm các công trình sau: Nghi môn: Ranh giới giữa không gian đình với không gian bên ngoài được kết nối bởi hệ thống công đình. Dinh Ngọc Than có hai công ở mặt trước va mặt sau. Công trước được gọi là công chính nằm sát đường làng, trên trục thần đạo của đình. Công được xây dựng theo lối nghi môn trụ biểu rộng 4,45 m, hai cột trụ hoa biểu hai bên cao 8,07 m.
Trên cùng hai đỉnh trụ lớn của đắp hình tứ phượng chum đầu kiểu lá lật. Phía đưới là đầu vuông: tiếp theo phía dưới là trụ lồng đèn. Mặt ngoài lồng đèn có đắp nổi các họa tiết trang trí hình tứ linh, tứ quý. Thân trụ biểu tạo khung ô, là mặt phăng dé đắp nổi câu đối ca ngợi di tích.
Dé trụ hình khum thắt cô bồng. Hai bên cổng chính có hai cổng phụ xây kiểu chồng diêm hai tầng tám mái. Theo cách gọi thông thường là Tam quan tức ba công (một cổng chính, hai cổng phụ); bề ngang công phụ rộng 1,54 m, cao 2,99 m, lối đi rộng 0,66 m. Họa tiết trang trí là hình kìm nóc, guột mây lá, đều dap nối bang vôi vữa.
Men theo sườn bên trái đình dẫn đến công hậu. 18 Công được bó thềm bằng đá xanh và đặt đôi lân trên đỉnh trụ để kiểm soát tâm linh khách hành hương, nhân dân. Lối đi bên sườn trái của đình dẫn ra công hậu mang đậm tính tâm linh của người làng với tư duy, sau khi hoàn tất nghi thức trình thánh, các bô lão và thanh niên theo lối này để vào đại đình dâng lễ kính cáo, như vậy họ quan niệm vẫn được đi trong không gian thiêng của đình thay vì đi ra đường làng nên sẽ được thần linh chứng giám. Sân đình: Sân đình gồm sân tiền và sân hậu.
Trong đó, sân tiền rộng 1.704 m2; trước năm 1954 được lát gạch Bát Tràng một nửa, nửa còn lại trồng cỏ. Sân tiền là nơi diễn ra các nghi thức tế lễ chính vào ngày hội làng. Ở sân đình, sự phân chia không gian cho từng thành phần trong làng cũng hết sức rành mạch thông qua chiếu tế lễ. 1 Tiên tê Long đình 3a 3b 3c CeO — rT ˆ (5 cờ ngũ hành) Sơ đồ 1 : Vị trí, thứ bậc tế lễ của các thành phần ở làng Chú thích : 1: Chiếu thần (Trưởng văn 4: Chiếu chức dịch (Lý trưởng, 7: Chiếu dân làng và hai cụ từ) Chánh Tổng) 2: Chiếu chủ tế làng 5: Chiếu Quan viên 8: Chiếu ngoại lai 3: Chiếu bốn cai đám 6: Chiếu Hàng đô 9: Chiếu mõ 19 Lệ xưa, nếu người làng lễ nhằm vào chiếu mõ làng thi gia đình đó đến nhà ai cũng không bao giờ được tiếp đón.
Chiếu ngoại lai dành cho dân ngụ cư ở làng vào dâng lễ. Nếu gia đình có người vừa mat vẫn được dâng lễ ra đình nhưng trên đường gặp người tế phải dẹp qua một bên và cúi mặt. Sân hậu là sân sau của đình còn được gọi là sân Cầu, là nơi diễn ra các nghi thức kính cáo Thành hoàng làng khi mở hội Du xuân giao điệt. Trước hết phải có múa thờ.
Một đội thanh niên lực lưỡng, bận võ phục, thắt dây lưng nhiễu điều, ra múa một bài võ va một bài gậy để nghênh than. Tiếp đến là keo vật thờ, có hai lão đô đóng khó ra biểu diễn một keo vật thử dé gây hào hứng. Sau đó là hội thi vật cho tat cả mọi người xa gần tham dự. Tả mạc, hữu mạc: nằm trong sân tiền, ở hai bên trước mặt Đại đình, mỗi nhà có 7 gian làm bằng gỗ tứ thiết; kết cấu theo kiểu kiến trúc nhà Việt gồm mái chảy, lợp ngói.
Đây là nơi có các quan sửa soạn mũ áo trước khi vào tế hay là chỗ để dân làng chuẩn bị cỗ bàn, đồ lễ trong ngày hội đình. Bệ tế than nông: Bệ tế thần nông ở trong sân, chếch về phía Đông Bắc, là nơi thờ tiên sư của nghề nông. Tiền tế làm năm Ất Ty (1905, Thành Thái năm thứ 7), trước mặt Đại đình, cách 2,2 m; nằm trên nền gạch dài 22,9 m, rộng 7,78 m.