Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG 1. Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là một lĩnh vực nghiên cứu rất phổ biến và đa dạng, vì vậy có nhiều phương pháp tiếp cận cùng với nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau. Mỗi quan niệm, cách định nghĩa phản ánh các khía cạnh khác nhau của quản lý.
Từ góc độ hoạt động, quản lý được hiểu là sự chỉ đạo và điều khiển các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm đạt được mục tiêu của nhà quản lý. Cách tiếp cận này nhìn nhận những hoạt động cơ bản của quản lý. Bản chất của quản lý là quá trình chỉ đạo và điều khiển người khác để đạt được mục tiêu. Từ góc độ chính trị pháp lý, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức và lao động.
Hoạt động quản lý là lao động của con người. Tuy nhiên, đây là một loại lao động đặc biệt, nơi mà nhà quản lý sử dụng kiến thức và sáng tạo để tác động lên các đối tượng quản lý. Từ mối quan hệ giữa các quá trình trong quản lý, quản lý được hiểu là một hoạt động bao gồm hai quá trình liên kết chặt chẽ: duy trì và phát triển. Quá trình đầu tiên trong quản lý là duy trì để đảm bảo sự ổn định và trật tự cho các hoạt động của tổ chức.
Đồng thời, cũng cần thực hiện các hoạt động để phát triển tổ chức theo một hướng cao hơn. Hai quá trình này, duy trì và phát triển, kết hợp và hỗ trợ lẫn nhau nhằm đảm bảo cho hoạt động của tổ chức vừa ổn định vừa phát triển. Những quan niệm và cách tiếp cận này phản ánh những khía cạnh khác nhau của quản lý. Tuy nhiên, những quan niệm này đều có những điểm chung cơ bản sau đây: - Quản lý là hoạt động thực tiễn xã hội có tổ chức mà con người tiến hành để thực hiện những mục đích nhất định.
- Quản lý là quá trình hướng đến việc đạt được mục tiêu nhất định. - Quản lý là quá trình chỉ huy điều khiển hướng dẫn. 10 - Quản lý là quá trình gián tiếp (đạt được mục tiêu thông qua người khác). - Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý.
Tóm lại, quản lý là sự tác động, điều khiển có mục đích của người quản lý, đối với những người được quản lý trong tổ chức. Người quản lý có thể là một người hay một nhóm người có quyền lực và quyền hạn cao nhất trong tập thể. Đặc điểm của quản lý là định hướng và chỉ đạo hoạt động chung của tập thể, phối hợp các hoạt động riêng lẻ thành một hoạt động chung thống nhất của cả một tập thể, cùng đi theo một phương hướng để đạt được mục tiêu. Quản lý được thực hiện dựa trên tổ chức và quyền lực.
Có tổ chức thì mới phân chia rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của từng cá nhân trong tổ chức. Người quản lý phải có quyền lực, thì mới bảo đảm sự phục tùng của mọi người trong tổ chức đối với người quản lý. Quản lý nhà nước - Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, đó là quản lý toàn xã hội. Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sự và đặc điểm văn hoá, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.
Xét về mặt chức năng, quản lý nhà nước bao gồm 3 chức năng: thứ nhất, chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện; thứ hai, chức năng hành pháp (hay chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; thứ ba, chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện. So với quản lý của các tổ chức khác, thì quản lý nhà nước có những đặc điểm khác biệt như sau: - Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền, gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp; - Đối tượng quản lý nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia; 11 - Quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao; - Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội; - Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu “quản lý nhà nước” là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Khái niệm môi trường “Môi trường có thể được định nghĩa như sau: “Môi trường là tập hợp (aggregation) các vật thể (things), hoàn cảnh (conditions) và ảnh hưởng (influances) bao bọc quanh một đối tượng nào đó”.
Định nghĩa này cho thấy, khi nói về môi trường chúng ta phải đứng trên một đối tượng nhất định và đối tượng này chịu tác động của các thành phần bao quanh nó, đối tượng này không nhất thiết là con người (loài người, các thể người hoặc cộng đồng loài người) mà có thể là bất cứ một vật thể, hoàn cảnh, hiện tượng nào đó tồn tại trong không gian có chứa các yếu tố tác động tới sự tồn tại và phát triển của nó. Với cách nhìn này, có thể làm chúng ta lầm tưởng mỗi đối tượng chỉ tiếp nhận những tác động của các yếu tố khác ở xung quanh. Thực ra, bản thân đối tượng đó cũng có những tác động ngược lại các yếu tố xung quanh và chính nó trở thành một yếu tố của môi trường đối với một yếu tố khác được xem là đối tượng của môi trường. Vì vậy môi trường có thể còn được định nghĩa là khoảng không gian nhất định có chứa các yếu tố khác nhau, tác động qua lại với nhau để cùng tồn tại và phát triển” [17, tr.
“Khi nói tới môi trường, người ta nghĩ ngay đến mối quan hệ của những yếu tố xung quanh tác động tới đời sống của sinh vật mà trong đó chủ yếu là con người. 12 Quan điểm về môi trường nhìn từ góc độ sinh học là những quan điểm phổ biến, sau đây là một số định nghĩa: - Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế - xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người. - Môi trường là tất cả các hoàn cảnh hoặc điều kiện bao quanh một hay một nhóm sinh vật hoặc môi trường là tổng hợp các điều kiện xã hội hay văn hoá ảnh hưởng tới cá thể hoặc cộng đồng. Vì con người vừa tồn tại trong thế giới tự nhiên và đồng thời tạo nên thế giới văn hoá, xã hội và kỹ thuật, tất cả đều là thành phần môi trường sống của con người” [17, tr.
Qua các định nghĩa trên, môi trường được xem như là những yếu tố bao quanh và tác động lên con người (cá thể hay cộng đồng) và sinh vật. Có thể nêu ra một số định nghĩa chung về môi trường như sau: Theo Luật Bảo vệ môi trường: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” [8] “Môi trường sống có các vai trò, chức năng cơ bản như sau: + Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật; + Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; + Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và trong hoạt động sản xuất của con người; + Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất; + Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người” [17, tr. Khái niệm bảo vệ môi trường “Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải 13 thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [17, tr. Môi trường luôn nhạy cảm, dễ bị ô nhiễm, suy thoái và gặp sự cố.
Khi xảy ra ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường rất khó khắc phục. Sự cố, ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người và hệ sinh thái. Môi trường là một phạm trù rộng lớn, bao gồm nhiều thành phần, nhiều dạng thức khác nhau đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và sinh vật. Ô nhiễm môi trường tại một quốc gia, một khu vực dễ dàng ảnh hưởng đến quốc gia, khu vực khác.
Vấn đề môi trường thường để lại hậu quả nặng nề, đây được xác định là vấn đề của toàn cầu, mọi quốc gia cần phải nỗ lực trong việc hạn chế các hoạt động gây hại cho môi trường đồng thời đi đôi với bảo vệ, khắc phục những hậu quả ô nhiễm môi trường đã và đang diễn ra. Ô nhiễm môi trường đã và đang tiếp tục gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ cộng đồng. Mối đe dọa về môi trường bị tàn phá cùng với những hậu quả nghiêm trọng đã khiến các quốc gia phải chú trọng hơn đến những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường. Nhiều biện pháp kinh tế, xã hội và tổ chức đã được triển khai nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường.
Một số quốc gia đã áp dụng chính sách giảm hoặc miễn thuế cho hoạt động kinh doanh trồng rừng, miễn thuế cho các chi phí đầu tư vào biện pháp bảo vệ môi trường, và thực hiện đánh giá tác động môi trường cho các dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân trong nước.