Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Thái Nguyên có tổng diện tích tự nhiên đạt 18.970,48 ha cùng quy mô dân số ghi nhận 330.707 người, trong đó khu vực nội thành tập trung tới 248.030 người (chiếm gần 75% tổng dân số). Đi kèm với tốc độ đô thị hóa nhanh và mật độ dân cư tập trung cao, hệ thống thoát nước chung được cải tạo từ năm 2003 với tổng chiều dài 39,7 km mương cống hiện đã bộc lộ sự quá tải nghiêm trọng. Lượng mưa trung bình hàng năm lên tới 2007 mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 (chiếm 80-85% lượng mưa cả năm), kết hợp với các đợt mưa lớn lịch sử từng ghi nhận lượng mưa đạt 544 mm trong 24 giờ đã khiến các trục giao thông trọng yếu như Lương Ngọc Quyến, Hoàng Văn Thụ và Minh Cầu thường xuyên ngập sâu từ 0,3 m đến 0,6 m.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết tình trạng ách tắc thủy lực cục bộ, suy giảm dung tích tự chảy và hiện tượng nước sông Cầu dâng cao tràn ngược vào đô thị. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng làm việc của 114 tuyến cống hiện hữu, xác định nguyên nhân cốt lõi gây ngập úng và ứng dụng mô hình thủy lực động lực học SWMM để mô phỏng khả năng thoát nước với trận mưa thiết kế chu kỳ 10 năm. Phạm vi nghiên cứu bao quát 15 tiểu lưu vực với tổng diện tích 325,62 ha tại vùng lõi trung tâm thành phố Thái Nguyên, sử dụng chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn quan trắc liên tục 43 năm (1969-2011). Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học chính xác giúp giảm trên 85% các điểm đen ngập úng, tối ưu hóa chi phí đầu tư hạ tầng và đảm bảo an sinh xã hội cho hơn 248.000 cư dân đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa hai nền tảng lý thuyết thủy văn - thủy lực kinh điển: lý thuyết dòng chảy không ổn định trong hệ thống mạng lưới kênh hở, cống ngầm (phương trình Saint-Venant kết hợp công thức Manning) và lý thuyết mô hình hóa dòng chảy mặt đô thị phi tuyến. Mô hình nghiên cứu chính là phần mềm động lực học SWMM (Storm Water Management Model) do Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ phát triển, cho phép mô phỏng chính xác sự biến đổi lưu lượng theo thời gian và quá trình truyền sóng lũ trong các đường dẫn kín.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng phương pháp phân bố mưa dạng khối xen kẽ của Chow (1988) nhằm xây dựng biểu đồ mưa thiết kế 24 giờ đỉnh nhọn dựa trên đường quan hệ Cường độ - Thời gian - Tần suất (IDF) theo tiêu chuẩn TCVN 7957:2008 với các tham số khí hậu địa phương đặc trưng (A = 7710; C = 0,52; b = 28; n = 0,85). Nghiên cứu xoay quanh các khái niệm then chốt gồm: hệ số dòng chảy mặt (Runoff Coefficient), dung tích điều tiết hồ chứa (Storage Capacity), cao độ đỉnh ngập tràn (Surcharge Depth) và hệ thống thoát nước đô thị bền vững (Sustainable Drainage Systems - SUDS).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đồng bộ từ các cơ quan quản lý chuyên ngành, bao gồm chuỗi số liệu quan trắc mực nước sông Cầu giai đoạn 1969-2011 từ Trạm thủy văn Gia Bảy, số liệu mưa trạm Khí tượng Thái Nguyên, hồ sơ hoàn công hạ tầng từ Ban Quản lý dự án thoát nước và bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2000 từ Viện Quy hoạch Thái Nguyên.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 15 tiểu lưu vực thoát nước với diện tích 325,62 ha, 107 nút giao thủy lực (Junctions), 114 đoạn cống truyền dẫn (Conduits), 2 hồ điều hòa lớn là hồ Xương Rồng (dung tích 421.667 m3, diện tích 120.356 m2) và hồ Cống Ngựa (dung tích 34.000 m3, diện tích 19.482 m2), cùng 7 cửa xả chính dẫn ra sông Cầu. Phương pháp chọn mẫu áp dụng nguyên tắc phân chia lưu vực thủy văn tự nhiên kết hợp cấu trúc mạng lưới cống ngầm thực tế nhằm bao quát trọn vẹn toàn bộ vùng trũng trung tâm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tần suất FFC kết hợp mô hình hóa SWMM là vì công cụ này có khả năng giải quyết bài toán biên thủy lực phức tạp khi mực nước sông tiếp nhận dâng cao, vượt trội hơn hẳn các phương pháp tính toán thủy lực tĩnh truyền thống. Toàn bộ quá trình thu thập số liệu, khảo sát thực địa và chạy mô phỏng kiểm chứng được thực hiện chặt chẽ trong timeline nghiên cứu từ năm 2014 đến đầu năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả mô phỏng bằng mô hình SWMM đối với trận mưa cực đại 24 giờ ứng với chu kỳ lặp lại 10 năm (tần suất P = 10%, lượng mưa đỉnh đạt 93,45 mm/h) đã chỉ ra 3 phát hiện kỹ thuật mang tính bước ngoặt:

Thứ nhất, có tới hơn 60% các tuyến cống hiện trạng trên các trục đường huyết mạch rơi vào trạng thái quá tải nghiêm trọng. Điển hình là các tuyến cống hộp B600 trên đường Minh Cầu và cống B1000 trên đường Hoàng Văn Thụ có hệ số chứa đầy đạt 100%, xuất hiện tình trạng ngập tràn (surcharge) kéo dài từ 1,5 đến 3,5 giờ sau khi mưa đạt đỉnh.

Thứ hai, mô hình đã xác định chính xác các điểm nghẽn thủy lực trọng điểm tại nút J55 và các đoạn cống C7, C82, C108. Tại cổng Bệnh viện Đa khoa Trung ương và Đại học Sư phạm Thái Nguyên, chiều sâu ngập tính toán cục bộ dao động từ 0,35 m đến 0,45 m, khiến khả năng tiêu thoát nước mặt giảm hơn 70% so với yêu cầu thiết kế.

Thứ ba, nghiên cứu phát hiện sự phụ thuộc thủy lực tiêu cực giữa hồ điều hòa Xương Rồng và sông Cầu. Mực nước tính toán đỉnh lũ sông Cầu tại trạm Gia Bảy ứng với tần suất P = 10% đạt cao trình 27,49 m, vượt xa cao độ mực nước tối đa của hồ Xương Rồng (25,50 m) và cao độ bờ hồ (26,55 m), dẫn tới việc 2 cửa xả của hồ bị ngập sâu, làm mất hoàn toàn khả năng tiêu thoát tự chảy ra sông.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng ngập úng nghiêm trọng là do quá trình đô thị hóa làm gia tăng diện tích mặt phủ không thấm trong khu vực nội thành 5.931 ha, làm tăng hệ số dòng chảy mặt lên trên 0,75. Đồng thời, khoảng cách bố trí ga thu nước quá xa (từ 50 m đến 100 m) cùng tình trạng bùn rác bồi lắng đã làm co hẹp hơn 30% tiết diện thoát nước hữu ích của các tuyến cống B500 - B800.

So sánh với nghiên cứu chống ngập tại thành phố Nha Trang năm 2013 và các đô thị lớn tại Việt Nam, các phát hiện này hoàn toàn tương đồng về mặt cơ chế ngập úng do tác động kép giữa quá tải nội tại và nghẽn dòng ngoài biên xả. Trong thực tế, các dữ liệu mô phỏng được biểu diễn trực quan thông qua đường quá trình lưu lượng theo thời gian (Q-t) tại các tuyến cống C108, C111, C112, kết hợp trắc dọc mực nước chi tiết (như tuyến cống C57-C62-C102 đường Minh Cầu) và bản đồ ngập lụt không gian. Kết quả này chứng minh rằng việc chỉ nạo vét cơ học đơn thuần sẽ không giải quyết được vấn đề nếu không có giải pháp cải tạo tiết diện cống và kiểm soát mực nước biên xả.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phân tích thủy lực từ mô hình SWMM, nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ:

Thứ nhất, tiến hành thay thế và nâng cấp 21,1 km tuyến cống không đủ tiết diện trên các trục đường Minh Cầu, Hoàng Văn Thụ, Lương Ngọc Quyến sang cống hộp bê tông cốt thép khẩu độ lớn từ B1200 đến B2300 theo phương pháp cường độ giới hạn. Mục tiêu nâng công suất tải lưu lượng mặt đường lên 150%, hoàn thành trong giai đoạn 2016-2020 do Ban Quản lý dự án thành phố chủ trì thực hiện.

Thứ hai, xây dựng trạm bơm tiêu thoát nước cưỡng bức tại khu vực cửa xả hồ Xương Rồng ra sông Cầu với lưu lượng thiết kế ước tính từ 5 đến 8 m3/s. Giải pháp này giúp chủ động hạ mực nước hồ xuống cao độ an toàn 23,50 m trước khi bão đổ bộ, ngăn chặn triệt để hiện tượng nước sông Cầu tràn ngược khi mực nước vượt ngưỡng 26,55 m, triển khai trong giai đoạn 2018-2022.

Thứ ba, tích hợp giải pháp thoát nước bền vững (SUDS) thông qua việc cải tạo 100% vỉa hè đường Hoàng Văn Thụ thành bề mặt thấm nước và phát triển các ô trữ nước mưa dạng vườn mưa gia đình. Mục tiêu giảm 20% lưu lượng đỉnh dòng chảy tràn mặt đường, giao Ủy ban nhân dân các phường trung tâm phối hợp cùng cộng đồng dân cư thực hiện thường xuyên.

Thứ tư, thiết lập hệ thống quan trắc mực nước tự động và phần mềm cảnh báo ngập lụt thời gian thực tại 7 cửa xả chính, kết hợp kế hoạch duy tu, nạo vét bùn lắng định kỳ 6 tháng/lần. Chủ thể thực hiện là Công ty Cổ phần Môi trường và Đô thị Thái Nguyên, áp dụng liên tục từ năm 2016 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên. Nhóm này có thể sử dụng trực tiếp các bản đồ ngập lụt và thông số thủy lực để phê duyệt quy hoạch tổng thể thoát nước đô thị đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Nhóm thứ hai là các đơn vị tư vấn thiết kế, kỹ sư công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị. Luận văn cung cấp case study chuẩn xác về quy trình ứng dụng phần mềm SWMM kết hợp tiêu chuẩn TCVN 7957:2008 để tính toán thủy lực mạng lưới cống và thiết kế trạm bơm tiêu úng.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kỹ thuật Cấp thoát nước, Thủy văn, Kỹ thuật Tài nguyên nước tại các trường đại học kỹ thuật. Đề tài là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp tiếp cận mô hình hóa động lực học và xử lý chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 43 năm.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp vận hành, quản lý hạ tầng đô thị. Tài liệu giúp định hình quy trình vận hành liên hồ chứa (hồ Xương Rồng, hồ Cống Ngựa) và lịch trình duy tu nạo vét hố ga khoa học, tiết kiệm 15-20% chi phí vận hành hàng năm.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình SWMM giải quyết bài toán ngập úng tại khu trung tâm thành phố Thái Nguyên như thế nào? Mô hình SWMM phân tích động lực học dòng chảy của 15 tiểu lưu vực trên diện tích 325,62 ha, kết nối 107 nút và 114 đoạn cống. Phần mềm mô phỏng chính xác sự lan truyền sóng lũ, trạng thái đầy cống và quá trình ngập tràn cục bộ theo từng phút ứng với trận mưa 24 giờ thiết kế.

Vì sao mực nước sông Cầu lại ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng ngập lụt nội đô? Mực nước đỉnh lũ sông Cầu tại trạm Gia Bảy ứng với tần suất 10% đạt tới 27,49 m, cao hơn cao trình bờ hồ Xương Rồng (26,55 m). Chênh lệch cột nước này làm tê liệt hoàn toàn khả năng tự chảy của 7 cửa xả, gây nghẽn dòng và ứ đọng nước mưa trong mạng lưới cống nội thành.

Giải pháp thoát nước bền vững (SUDS) được áp dụng cụ thể ra sao trong đề tài? Nghiên cứu đề xuất thay thế kết cấu vỉa hè đặc trên đường Hoàng Văn Thụ bằng lớp vật liệu thấm nước kết hợp các bồn cây, vườn mưa gia đình. Giải pháp này tăng cường khả năng ngấm nước tự nhiên xuống tầng đất chưa bão hòa, giúp cắt giảm đáng kể lưu lượng đỉnh tràn vào hệ thống cống.

Phương pháp khối xen kẽ của Chow có ưu điểm gì trong tính toán mưa thiết kế? Phương pháp của Chow (1988) giúp chuyển đổi đường cong IDF địa phương theo TCVN 7957:2008 thành biểu đồ mưa 24 giờ liên tục với khối mưa cường độ cực đại 93,45 mm/h đặt ở giữa. Điều này phản ánh sát thực tế diễn biến các trận mưa giông nhiệt đới tập trung tại khu vực miền núi phía Bắc.

Tại sao cần kết hợp cải tạo cống theo phương pháp cường độ giới hạn với xây dựng trạm bơm? Phương pháp cường độ giới hạn giúp tối ưu hóa kích thước hình học cống từ B1200 đến B2300 để gom nước nhanh nhất. Tuy nhiên, khi mực nước sông Cầu vượt mức 26,55 m, chỉ có trạm bơm tiêu cưỡng bức mới giải tỏa được áp lực nước ngược, đảm bảo tiêu thoát triệt để cho toàn đô thị.

Kết luận

  • Đã số hóa và mô hình hóa thành công mạng lưới thoát nước khu trung tâm thành phố Thái Nguyên gồm 107 nút, 114 đoạn cống và 15 tiểu lưu vực bằng phần mềm SWMM.
  • Xác định nguyên nhân gây ngập tại các tuyến đường Minh Cầu, Hoàng Văn Thụ là do tiết diện cống hiện trạng B600 - B1000 không đủ tải và mực nước sông Cầu dâng cao đạt 27,49 m làm tê liệt cửa xả.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp kỹ thuật toàn diện kết hợp giữa cải tạo cống kích thước lớn (B1200 - B2300), xây dựng trạm bơm tiêu hồ Xương Rồng và ứng dụng hạ tầng thấm nước SUDS.
  • Đề xuất lộ trình triển khai hạ tầng công trình trọng điểm theo 2 giai đoạn chiến lược: nâng cấp mạng lưới cống ngầm (2016-2020) và hoàn thiện trạm bơm tiêu cưỡng bức (2018-2022).
  • Khai thác ngay tài liệu nghiên cứu chuyên sâu này để áp dụng vào các dự án quy hoạch và hiện đại hóa hệ thống thoát nước đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu.