Chương 1: Lý thuyết về di cư và chính sách tài chính hỗ trợ nhà ở cho người có thu nhập thấp (TNT). Chương 2: Thực trạng vấn đề nhà ở cho người có TNT tại TP.HCM trong mối quan hệ với tình hình di cư và nhu cầu lao động. Chương 3: Một số gợi ý chính sách tài chính hỗ trợ phát triển nhà ở cho người có TNT trên địa bàn TP.HCM trong mối quan hệ với vấn đề di cư. Trang 1 CHƢƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ DI CƢ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ NHÀ Ở CHO NGƢỜI CÓ THU NHẬP THẤP 1.1 Tổng quan về di cƣ và nhà ở cho ngƣời di cƣ Có thể nói vấn đề di cư từ lâu đã trở nên quen thuộc, nó như một tập quán hay một quy luật của xã hội loài người.
Đặc biệt tại các quốc gia đang trong quá trình đô thị hóa, hiện tượng này càng diễn ra mạnh mẽ và thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp trong xã hội, nhất là các cấp chính quyền ở nơi đến bởi các dòng di cư sẽ tạo nên nhu cầu nhà ở mà nếu các cấp chính quyền không giải quyết ổn thỏa sẽ tạo ra nhiều hệ lụy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó. Ở phần này, tác giả đi vào trình bày các khái niệm, mô hình lý thuyết liên quan đến di cư, vấn đề nhà ở cho người di cư và chính sách tài chính hỗ trợ nhà ở cho người có TNT nói chung và hỗ trợ nhà ở cho người nhập cư có TNT nói riêng. Những lý thuyết này sẽ làm nền tảng cho phân tích nhu cầu và gợi ý chính sách ở các chương tiếp theo.1 Khái niệm và nguyên nhân di cƣ 1.1 Khái niệm di cƣ Có rất nhiều khái niệm về di cư, có thể điểm qua một số khái niệm dưới đây: Di dân là sự di chuyển của con người từ một địa phương này đến một địa phương khác, có thể là quận – huyện, tỉnh thành hay quốc gia trong khoảng thời gian một năm hoặc dài hơn. Trong đó, những người trong quân đội, di chuyển theo yêu cầu của quân đội sẽ không được xem là những người di cư (Haughton, 1999).
Di cư là sự thay đổi chỗ ở của dân cư từ một đơn vị lãnh thổ đến một đơn vị lãnh thổ khác để thiết lập nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định (United Nations). Khái niệm này nhấn mạnh mối quan hệ giữa sự di chuyển của người dân với việc thiết lập nơi cư trú mới. Trang 2 Di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn (Giáo trình Di dân và Đô thị hóa, 2006, Trường ĐH Y Tế Cộng Đồng). Như vậy, nhìn chung các khái niệm về di cư được trình bày dưới những câu từ khác nhau, nhưng tất cả đều phản ánh một nội dung gần như giống nhau đó là: di cư là sự di chuyển của người dân từ nơi họ đã sống trước đó đến một địa phương khác nhằm thực hiện mục đích nào đó, sự di chuyển này có thể có giới hạn hoặc vô hạn về thời gian và có quan hệ mật thiết với chỗ ở.
Bởi vì việc di cư gắn liền với chỗ ở, với các vùng lãnh thổ và những đơn vị hành chính khác nhau, cho nên sự di cư bên cạnh việc tác động đến người di cư nó cũng tạo ra những thách thức và những mối quan tâm lớn cho các cấp chính quyền (bao gồm chính quyền nơi họ ra đi và các cấp chính quyền tại địa phương họ đến).2 Nguyên nhân di cƣ Các nghiên cứu về di cư đã được bắt đầu từ thế kỷ XIX và phát triển cho đến hiện nay. Nhìn chung, các lý do đưa đến quyết định di cư đều xoay quanh vấn đề kinh tế, trong đó mô hình Harris – Todaro (1970) được xem là điển hình và đóng góp lớn nhất trong lĩnh vực nghiên cứu di dân từ nông thôn ra thành thị gắn liền với yếu tố này. Song bên cạnh đó, khi nghiên cứu trên giác độ phúc lợi xã hội, Tiebout (1956) đã phát hiện một nguyên nhân khác khiến người dân “bỏ phiếu bằng chân” khi chất lượng hàng hóa, dịch vụ công ở các địa phương là khác nhau. Những nghiên cứu này là nền tảng lý luận vững chắc, có ý nghĩa quan trọng cho các nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.
(a) Cơ hội việc làm và thu nhập - Mô hình HT Mô hình Harris – Todaro (HT) là dòng lý thuyết chính thống và được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về di cư ngày nay. Lý thuyết này cho rằng quyết định di cư là dựa trên sự khác biệt về thu nhập kỳ vọng giữa nông thôn và thành thị hơn là chỉ dựa trên sự khác biệt về lương thực tế. Bởi vì dựa vào kỳ vọng nên sự di cư này có thể gây ra tình trạng thất nghiệp ở đô thị khi mà kỳ vọng thu nhập ở thành thị cao hơn nhiều so với thu nhập kỳ vọng ở nông thôn. Trang 3 Với: Wr là lương (hay năng suất biên của lao động) trong khu vực nông thôn.
Wu là lương ở khu vực thành thị (có thể dựa vào lương tối thiểu theo quy định của chính phủ). Le là tổng số lượng công việc có sẵn ở khu vực thành thị, nó chính bằng số lượng công nhân có việc làm ở khu vực thành thị. Lus là tổng số lực lượng lao động ở đô thị, bao gồm người đang có việc làm và người thất nghiệp đang tìm việc. Sự di cƣ từ nông thôn ra thành thị sẽ diễn ra nếu LLee WW < r r < Wu LLusus HT cho rằng quyết định di chuyển cùng với kỳ vọng về khả năng thu nhập cao và cuộc sống khá hơn đã giải thích tại sao đa số người dân di cư từ nông thôn ra thành thị ngay cả khi phải đối diện với tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm.
Để giải thích vấn đề này HT quan tâm đến sự khác biệt trong giá trị hiện tại của thu nhập kỳ vọng ở nông thôn và thành thị hơn là lương hiện hành, thể hiện qua phương trình: n V(0) = [ P(t)Yu(t) – Yr(t) ]e-rtdt – C(0) t=0 0 Trong đó: V(0) là giá trị hiện tại của thu nhập ròng khi di chuyển từ nông thôn ra thành thị Trang 4 P(t) là khả năng đảm bảo công việc ở khu vực thành thị trong khoảng thời gian t Yu và Yr là thu nhập thực trung bình lần lượt ở khu vực thành thị và khu vực nông thôn C là chi phí của sự di chuyển r là tỷ lệ chiết khấu n là thời gian di cư dự định (the planning horizon) Theo phương trình trên có thể thấy rõ rằng quyết định di cư của cá nhân phụ thuộc vào 2 nhân tố chính là sự khác biệt trong thu nhập thành thị - nông thôn và khả năng tìm kiếm việc làm. Tất nhiên cũng phải tính đến chi phí di chuyển. Khi V(0) > 0 thì những người di cư tiềm năng sẽ quyết định di chuyển. Tóm lại: mô hình HT nghiên cứu vấn đề di cư dựa trên phân tích lợi ích – chi phí đưa đến quyết định di cư.
Trong đó, chênh lệch tiền lương thực tế giữa thành thị và nông thôn cùng với khả năng tìm kiếm công việc là những động cơ thúc đẩy người dân di cư. Bên cạnh đó, HT cũng cho rằng di cư vẫn có thể xảy ra ngay cả khi thất nghiệp và thiếu việc làm ở đô thị, vì người di cư kỳ vọng vào thu nhập tương lai nên sẽ chấp nhận thất nghiệp tạm thời. Mặc dù mô hình HT vẫn còn những giới hạn nhất định, nhưng nó vẫn có giá trị lớn trong việc lý giải vấn đề di cư. Lý thuyết này đã được một số nhà nghiên cứu đánh giá cao.
(Lai Yew Hah và Tan Siew, 1985) nhận xét mô hình HT đã chỉ ra được quy mô, mức độ của dòng di cư phụ thuộc vào những mong đợi về lợi ích cá nhân được đo bằng sự khác nhau trong thu nhập giữa thành thị và nông thôn. (b) Cạnh tranh địa phƣơng - Mô hình Tiebout Bối cảnh phát triển của thế giới đã tạo ra những thay đổi trong các nguyên nhân dẫn đến sự di cư của người dân, yếu tố kinh tế không còn là nguyên nhân duy nhất cho tất cả những người di cư. Tiebout (1956) cho rằng phúc lợi xã hội cũng là một nguyên nhân khiến người dân “bỏ phiếu bằng chân” khi chất lượng hàng hóa, dịch vụ công là khác nhau giữa các địa phương. Các địa phương Trang 5 không cung cấp tốt hàng hóa công thì người dân sẽ bỏ đi và di chuyển đến địa phương khác có chất lượng dịch vụ tốt hơn để sinh sống và làm việc.
Hay nói cách khác những địa phương nào có chất lượng dịch vụ về hàng hóa công tốt hơn sẽ trở nên hấp dẫn hơn và người dân sẽ di cư đến đó nhiều hơn. Trên thực tế các thành phố tài trợ cho hàng hóa công thông qua đánh thuế. Nhưng với nhiều cá nhân, quyết định sống ở đâu chỉ đơn thuần dựa vào mức độ cung cấp hàng hóa công của địa phương thậm chí không hiểu gì về chi tiêu và thuế địa phương. Mô hình Tiebout nhận định rằng bất kỳ sự khác biệt nào trong sự hấp dẫn tài khóa của thành phố đều sẽ chuyển vào giá nhà ở.
Những thành phố có mức cung cấp hàng hóa công tương đối cao thì giá nhà ở sẽ đắt. Như vậy, hàng hóa công của một địa phương có hấp dẫn người dân khiến họ di chuyển đến đó sinh sống thì sự di chuyển này không chỉ đơn thuần là bỏ phiếu bằng chân mà còn bằng ví tiền của họ bởi vì nó đã được vốn hóa vào giá nhà ở. Điều này có thể suy ra rằng, bất kỳ sự di chuyển nào của người dân chỉ mang ý nghĩa bỏ phiếu bằng chân mà không quan tâm đến ví tiền thì sẽ gặp khó khăn trong vấn đề nhà ở. Và tất nhiên, nếu ý nghĩ này tồn tại ở một số lượng đông những người di cư thì vấn đề nhà ở cho họ trở thành áp lực đối với nơi họ đến.2 Nhà ở và tầm quan trọng của việc cung cấp nhà ở cho ngƣời di cƣ Nhà ở là một vật thể được kiến trúc và xây dựng tại một địa điểm cụ thể nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trú ngụ và sinh hoạt hàng ngày của con người.