phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu luận văn gồm 03 Chương: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những vấn đề chung về không gian xanh công cộng 1. Đặc điểm phát triển và quản lý không gian xanh công cộng khu vực 04 quận nội thành cũ Hà Nội. Kinh nghiệm quản lý không gian xanh công cộng trên thế giới và trong nước.
Chƣơng 2: Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu 2. Phạm vi nghiên cứu 2. Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.
Đánh giá hiện trạng phát triển không gian xanh công cộng khu vực 4 quận nội thành cũ Hà Nội. Đánh giá hiện trạng công tác quản lý không gian xanh công cộng khu vực 4 quận nội thành cũ Hà Nội. Đánh giá sự tham gia quản lý và phát triển không gian xanh công cộng từ phía cộng đồng. Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý bền vững không gian xanh công cộng khu vực 4 quận nội thành cũ Hà Nội.
z 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề chung về không gian xanh công cộng 1. Tổng quan nghiên cứu Trên thế giới và Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý các yếu tố cấu thành nên không gian công cộng và không gian xanh đô thị. Phần lớn các công trình này đều tập trung nghiên cứu đề xuất các giải pháp về quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý không gian xanh, không gian công cộng. Một số công trình nghiên cứu cụ thể như sau: Đầu tiên là nhà tư tưởng người Đức Hannah Arendt (1906 – 1975).
Arendt đã nhìn nhận khu vực công cộng là một không gian mà tại đó, kể từ thời Hy Lạp cổ đại trở đi, cuộc sống tự do và không bị chi phối bởi những ràng buộc, đối lập với cuộc sống của cá nhân. Giữ gìn được khu vực công cộng là việc duy trì được một không gian mà chúng ta có thể gặp gỡ và trao đổi những quan điểm khác nhau. Theo ông, điều này là rất quan trọng đối với một xã hội dân chủ thực sự [32]. Năm 1962, nhà triết học đương đại người Đức, Juergen Habermas đã liên hệ giữa khu vực công cộng với đời sống chính trị.
Tác giả nhận định khu vực công cộng là không gian mà các ý kiến của cộng đồng có thể được đưa ra và trao đổi, một không gian và xã hội dân sự có thể nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước [34]. Henri Lefebvre (1901 – 1991), có thể được coi là nhà tư tưởng quan trọng nhất về đô thị trong thế kỷ 20, đề cập một cách trực tiếp hơn tới các vấn đề không gian công cộng và đặc biệt là không gian công cộng trong đô thị. Lefebvre đãliên hệ không gian công cộng với quyền của các cư dân đô thị trong việc tạo ra thành phố của họ. Không gian công cộng có thể được gìn giữ và phát triển nếu sự phát triển của đô thị không chỉ nằm trong giới hạn quản lý của nền kinh tế tư nhân và của Nhà nước [33].
Bên cạnh đó, chuyên gia thần kinh và tâm thần học người Mỹ - ông Brian Koehler cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của các mối quan hệ xã hội diễn ra trong môi trường không gian công cộng đối với các rối loạn thần kinh. Chứng tâm thần phân liệt có một phần nguyên nhân là do nguồn gốc gien, phần còn lại liên quan đến sự cô lập, hạn chế giao tiếp xã hội. Ông cũng đã cho biết tỷ lệ bệnh nhân bị rối loạn thần kinh do thiếu tiếp xúc và trao đổi với xã hội là 35%, điều này cho thấy việc giữ gìn và phát triển các không gian công cộng tại đô thị cũng là một vấn đề thuộc về y tế công cộng z 4 và chi phí y tế. Các không gian công cộng kém phát triển trong hiện tại cũng đồng nghĩa với các chi phí y tế công cộng cao trong tương lai [27].
Tại Chương trình Nghị sự toàn cầu về phát triển đến năm 2030, Liên Hiệp Quốc đã đề ra 17 mục tiêu phát triển bền vững, trong đó có mục tiêu “Thành phố và cộng đồng bền vững” với mục tiêu làm cho các thành phố và khu vực sinh sống của con người trở nên toàn diện, an tòan, linh động và bền vững. Các đô thị là trung tâm của những ý tưởng, thương mại, văn hóa, khoa học, năng suất, phát triển xã hội và nhiều hơn nữa. Đặc biệt các thành phố đã cho phép mọi người đạt được tiến bộ rõ rệt về mặt xã hội và kinh tế. Tuy nhiên, nhiều thách thức tồn tại khi duy trì các thành phố trong khả năng tạo việc làm và sự thịnh vượng trong thời điểm căng thẳng đất đai và các nguồn lực.
Những thách thức các thành phố phải đối mặt có thể được khắc phục bằng cách cho phép chúng tiếp tục phát triển và tăng trưởng, trong khi cải thiện sử dụng tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm và nghèo đói. Trong tương lai, cộng đồng muốn các thành phố có những cơ hội tiếp cận với các dịch vụ cơ bản, năng lượng, nhà ở, giao thông vận tải và nhiều hơn nữa. Chính phủ Việt Nam đã ban hành bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững địa phương giai đoạn 2013 – 2020, trong đó có chỉ tiêu về tỷ lệ đất cây xanh bình quân, một yếu tố quan trọng cấu thành nên không gian xanh công cộng [4]. Đề tài cấp Nhà nước của tác giả Lê Phương Thảo,“Nghiên cứu không gian xanh trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường đô thị” cũng đã đề xuất những giải pháp tổ chức không gian xanh nhằm cải thiện và môi trường đô thị ở Việt Nam, đặc biệt là đã lựa chọn được các giải pháp hợp lý và các loại cây trồng trong đô thị theo các tiêu chí phù hợp với các khu chức năng đô thị.
Đề tài đã đề xuất nhiều giải pháp và mô hình bố cục cây xanh trong thiết kế quy hoạch, đề xuất được danh mục cây trồng đô thị và giải pháp quy hoạch trong công tác nghiên cứu thiết kế quy hoạch đô thị ở Việt Nam [5]. Các nghiên cứu, đánh giá thực trạng về công viên, vườn hoa. tại Hà Nội cũng đã được thể hiện qua Quy hoạch hệ thống công viên cây xanh, vườn hoa và hồ Thành phố Hà Nội đến năm 2030, Quy hoạch chung Thủ đô [23, 24].1: Tổng hợp một số yếu tố của không gian xanh công cộng của Hà Nội Yếu tố Thực trạng Không gian - Toàn thành phố: 328ha, trong đó riêng nội thành cũ có 21 công công cộng tập viên và 32 vườn hoa với diện tích 320ha chiếm 1,9% diện tích đất z 5 trung tự nhiên (độ che phủ). - Bình quân diện tích cây xanh đô thị là 1,7m2/người.
Cây xanh đường - Diện tích che phủ cây xanh đường phố khoảng 394ha với tỷ lệ phố, quảng che phủ khoảng 2,7% diện tích tự nhiên nhưng chưa dành diện tích trường để làm vườn hoa sân chơi mà chủ yếu để xe, dịch vụ thương mại Không gian - Có khoảng 60 khu có 33 khu thuộc sở hữu Nhà nước với diện xanh trong các tích khoảng 430ha, đăng ký hộ khẩu cho 200.000 người, hầu như khu nhà ở, khu không còn các vườn hoa, không gian xanh công cộng chung cư Không gian xanh đã xác lập - Có khoảng 370 dự án nhà ở, 223 dự án giao đất với 5. Chỉ trong các dự án có 56 dự án đúng quy định, còn lại chậm hoặc sai, thậm chí có một phát triển khu số dự án không tìm được chủ đầu tư. đô thị mới Nguồn: Báo cáo của Sở xây dựng Hà Nội và Công ty công viên cây xanh (2014) Tập hợp các dữ liệu nghiên cứu, một số chỉ tiêu về hạ tầng Thủ đô được so sánh với các đô thị trong khu vực và thế giới như trong bảng sau: Bảng 1.2: Các tiêu chí cơ bản về cơ sở hạ tầng Hà Nội Dịch vụ cơ sở So sánh với các Các tiêu chí Hiêṇ tra ̣ng hạ tầng nƣớc khác Nhà ở Diê ̣n tích ở TB/người (m2) 20,81) 27,2 (Tokyo) Công viên và Diê ̣n tić h công viên (ng/m2) ( đô 5,72) 26,9 (London) không gian xanh thị) Nước sa ̣ch Phạm vi (% hô ̣ gia đình) 61,63) 100 (Tokyo) Điê ̣n Phạm vi cấp điện (% hô ̣ GĐ) 99,6 100 (Seoul) Tỉ lệ có NVS tự hoại (% hô ̣ GĐ) 79,83) 100 (Singapore) Vê ̣ sinh Xử lý nước thải (% số dân) 1,2 70 (Chiang Mai) Thu gom rác thải (% ) 95,0 - Giao thông đô Tỉ lệ đường (%) 4,04) 2,5 (Bangkok) thị Tỉ phần GTCC (%)5) 7,03) 74,0 (Tokyo) Nguồ n: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 z 6 1) Diện tích nhà ở theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1/4/2009 2) Tính đến năm 2008 (Sở Xây dựng) 3) Điề u tra Phỏng vấ n hộ GĐ HAIDEP năm 2005 4) Tính cho khu vực nội thành cũ Ngoài ra còn có những dự án liên quan đến việc xây dựng và cải tạo không gian xanh công cộng tại khu vực Hà Nội: Dự án nghiên cứu về không gian công cộng và văn hóa của giới trẻ Hà Nội thực hiện bởi Chương trình hợp tác nghiên cứu – hành động giữa Canada và Việt Nam cùng Tổ chức phi chính phủ Health Bridge; Dự án cải tạo sân chơi khu vực ở của nhóm kỹ sư trẻ Think playgrounds cũng đã góp phần đưa ra những giải pháp giúp tạo nên các không gian sinh hoạt cho cộng đồng dân cư. Các dự án này đã cải tạo các sân chơi trong khu ở, trong khu vực giao lưu cộng đồng, lắp đặt các trò chơi, tạo lập không gian giải trí, thư giãn cho người dân.
Đồng thời cũng đã có tài liệu nghiên cứu của Trung tâm dự báo và nghiên cứu đô thị - PADDI trong khóa tập huấn quy hoạch và quản lý không gian xanh, chính sách bảo tồn và phát triển cây xanh tháng 4/2011 với phạm vi khu vực đề cập là Thành phố Hồ Chí Minh. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm không gian công cộng Theo các tài liệu đã nghiên cứu, hiện nay chưa có định nghĩa chung về không gian công cộng.