MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển đô thị là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn đối với các nước trên thế giới, nhất là các nước Châu Á. Quá trình phát triển các khu công nghiệp, các nhà máy, khu dân cư… chính là quá trình phát triển đô thị để phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị. Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, phát triển đô thị luôn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội.
Phát triển đô thị được xem là vấn đề hết sức quan trọng hiện nay đối với Việt Nam. Ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết đinh số 1519/QĐ - TTg lấy ngày 8/11 hằng năm là Ngày Đô thị Việt Nam, nhằm động viên và thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, chính quyền các đô thị các nhà quy hoạch, kiến trúc, các nhà đầu tư phát triển đô thị, các chuyên gia và các tố chức xã hội - nghề nghiệp tích cực tham gia xây dựng và phát triển đô thị. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong việc phát triển đô thị gắn liền với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, tạo dựng được những không gian đô thị mới, từng bước đáp ứng nhu cầu về môi trường sống và làm việc có chất lượng.
Đô thị đã khẳng định vai trò là động lực cho phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước. Tuy nhiên, phát triển đô thị tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Bên cạnh đó, hệ thống đô thị Việt Nam cũng đang phải đối diện với những thách thức mới nảy sinh do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đây là những thách thức lớn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đô thị, điều kiện, môi trường sống của dân cư.
Theo xu hướng tất yếu của cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thành phố Thái Nguyên đã và đang trên con đường phát triển đô thị. Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng đã để lại một số hậu quả về môi trường trên địa bàn Thành phố suy thoái chất lượng nước mặt …Trong thời gian tới, nếu các cơ quan nhà nước không có những can thiệp kịp thời thì quá trình phát triển đô thị sẽ gây ra những hậu n 2 quả nghiêm trọng tới môi trường thành phố Thái Nguyên. Điều này đã được chứng minh từ thực tế hiện trạng môi trường thành phố Thái Nguyên. Sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường nước nói chung.
Trong phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường nước mặt. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự cho phép của ban chủ nhiệm khoa Môi Trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường nước mặt các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013”. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến chất lượng môi trường nước mặt các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên, để đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường nước mặt trước sự phát triển đô thị thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa học tập: Vận dụng các kiến thức đã học ở trường lớp vào thực tiễn.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất biện pháp khắc phục những tác động tiêu cực của phát triển đô thị tới môi trường nước mặt thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương có điều kiện tương tự n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về môi trường và ô nhiễm môi trường 2. Khái quát về môi trường * Các khái niệm môi trường: Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa sinh, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng cá nhân, từng cộng động và toàn bộ loài người trên hành tinh.
Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người”. Xét theo quan điểm nghiên cứu đô thị, môi trường đô thị là môi trường sống của con người tại khu vực đô thị. Môi trường đô thị là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý, kỹ thuật, chính trị và xã hội ngay từ khi hình thành các đô thị.
Tuy nhiên mức độ quan tâm và cách thức tiếp cận mỗi thời mỗi khác. * Chức năng của môi trường - Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. - Môi trường là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong hoạt động sống và hoạt động sản xuất.
- Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái Đất n 4 - Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Khái quát về ô nhiễm môi trường * Ô nhiễm môi trường: Theo Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “ Ô nhiễm môi trường là sự đưa vào môi trường các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường”. * Ô nhiễm môi trường nước: Là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.
Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: Nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí.Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu. * Nước thải sinh hoạt: Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở trường học khác. * Nước thải công nghiệp: Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
* Nước thải đô thị: Nước thải đô thị là một thuật ngữ chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên. * Nước thải thấm qua: Là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố gas hay hố xí. * Nước thải tự nhiên: Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng. * Tiêu chuẩn môi trường: Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong n 5 chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”.
Những căn cứ pháp lý về môi trường và ô nhiễm môi trường - Căn cứ Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 ngày 29/11/2005. - Căn cứ Luật số 17/2012/QH13 của Quốc hội : Luật tài nguyên nước - Nghị định số 201/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước - Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước - Nghị định số 162/2003/ NĐ – CP ngày 19 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ ban hành quy chế thu thập, quản lí, khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước. - Thông tư 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005: Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước - Thông tư số 29/2011/TT-BTNMT quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa. - TCVN 5942-1995: Giá trị giới hạn cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm cơ bản trong nước mặt.
- TCVN 5945:2005 Nước thải công nghiệp – tiêu chuẩn thải. - TCVN 5992 - 1995 Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu - QCVN 08 : 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường nước mặt. - QCVN 14:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt. - QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp.
Những vấn đề cơ bản về đô thị và quá trình phát triển đô thị 2.