CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Dự án nâng cấp đô thị vùng đồng bằng Sông Cửu Long được triển khai tại 6 thành phố: Cần Thơ, Cao Lãnh, Cà Mau, Rạch Giá, Mỹ Tho và Trà Vinh, trong đó, chính phủ Việt Nam nhận một khoản tài trợ 292 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới và 106 triệu USD vốn đối ứng Việt Nam. Dự án đã được ký hiệp định vào ngày 11/5/2012 và hiệp định có hiệu lực vào tháng 8/2012. Đây là dự án thí điểm của Chương trình nâng cấp đô thị quốc gia, theo Quyết định số 758/QĐ-TTg ngày 8/6/2009, dự án triển khai nhằm cải thiện điều kiện sống của người nghèo tại các đô thị thông qua việc nâng cấp giao thông, cung cấp điện chiếu sáng công cộng, điện sinh hoạt, cung cấp nước nước sạch, thoát nước tránh ngập úng, cải thiện ô nhiễm môi trường, trồng cây xanh và các công trình hạ tầng xã hội.
Tuy nhiên, quan sát thực tế, khi thu hồi nhà, đất của dân để thực hiện dự án, với những khoản tiền bồi thường cùng với chính sách hỗ trợ hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới từ các dự án thì không hẳn dự án nào cũng thật sự mang lại hiệu quả tích cực cho dân cư quanh vùng dự án. Một yêu cầu cơ bản khi thu hồi nhà, đất để xây dựng dự án là nhằm cải thiện điều kiện sống cho người nghèo trong đô thị và thay đổi cuộc sống cho người dân trong vùng dự án theo chiều hướng tốt hơn, có nghĩa là có thể tạo ra thu nhập cao hơn trước, tạo được công ăn việc làm tốt hơn, hoặc ít nhất là phải ngang bằng như trước khi bị thu hồi nhà, đất và đủ để đảm bảo cuộc sống hiện tại cũng như tương lai. Trong giai đoạn 1 của Chương trình nâng cấp đô thị quốc gia vay vốn Ngân hàng Thế giới, thực hiện tại 04 thành phố: Hải Phòng, Nam Định, Hồ Chí Minh và Cần Thơ, đến nay, vấn đề sinh kế của người dân trong vùng dự án chịu ảnh hưởng từ dự án chưa có nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học, cũng như chưa có chính 2 sách giải quyết ổn thoả nhằm mang lại sự hài lòng cho người dân về ổn định sinh kế. Tại thành phố Rạch Giá, dự án nâng cấp đô thị đã và đang được triển khai với kỳ vọng khi dự án hoàn thành, người dân trong vùng dự án sẽ hưởng lợi rất nhiều từ giao thông (đi lại thuận tiện, đường xá tốt hơn và khang trang hơn); từ việc cung cấp điện (chiếu sáng công cộng, điện sinh hoạt); từ việc cung cấp nước sạch; từ thoát nước, tránh ngập úng và cải thiện ô nhiễm môi trường; từ nâng cấp, đầu tư xây dựng mới công trình công cộng (công viên, cây xanh, trung tâm sinh hoạt cộng đồng, các công trình hạ tầng xã hội, vui chơi, giải trí), giúp giải tỏa và nâng cao tinh thần người dân sau một ngày làm việc, từ đó, giúp nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, theo thống kê, khi dự án triển khai, đã có khoảng 2.143 hộ bị thu hồi nhà ở, đất ở, đất sản xuất (712 hộ bị di dời hoàn toàn, 1.431 hộ di dời 1 phần). Các hộ dân khi bị thu hồi nhà ở, đất ở, đất sản xuất phải đương đầu với sự thay đổi cuộc sống, gián tiếp ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của họ. Một số hộ dân chưa tìm thấy cơ hội, điều kiện thuận tiện để tăng thu nhập và ổn định cuộc sống mới, cũng như mối quan hệ xã hội bị ảnh hưởng. Theo như tìm hiểu sơ bộ, sự thay đổi trên có phát huy được tín hiệu tích cực, tuy nhiên tín hiệu tiêu cực vẫn còn đang xảy ra.
Nếu như trước đây, người dân chỉ sống với công việc chính là sản xuất trên mảnh đất của mình, kinh doanh tại nhà mình, hoặc nhà gần chợ, gần nơi kinh doanh buôn bán rất thuận lợi, nay lại phải di chuyển đến nơi ở khác xa hơn, cuộc sống và thu nhập đều bị thay đổi. Trong điều kiện thiếu đất sản xuất, trong điều kiện không thể kinh doanh, buôn bán tại chính ngôi nhà mình, sản xuất trên chính mảnh đất của mình như truyền thống trước đây, bây giờ phải di dời đến nơi ở mới xa hơn, việc kinh doanh, buôn bán không thuận lợi làm ảnh hưởng đến sinh kế. Bên cạnh đó, trình độ người dân còn thấp, kinh tế, dịch vụ tại địa phương còn kém phát triển, các chính sách hỗ trợ của địa phương cũng chưa được thể hiện rõ ràng, vì thế chưa thật sự tạo cơ hội cho người dân bị ảnh hưởng có thể chuyển đổi nghề nghiệp, khôi phục thu nhập trở lại như cuộc sống cũ của họ. Tuy trước mắt, cuộc sống của một bộ phận người dân có trở nên sung túc 3 hơn trước do nhờ vào các khoản tiền đền bù, nhờ vào việc làm thuê từ các công trình đang xây dựng và các công việc khác trong khuôn khổ dự án, các công việc thời vụ,… nhưng nguồn thu nhập này không ổn định, về lâu dài, cuộc sống của họ và con cái họ không được đảm bảo.
Theo báo cáo của BQL các dự án đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá, đến nay dự án đã có 643 đơn khiếu nại về chính sách bồi thường, chính sách hỗ trợ bồi thường, tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp, tiền bồi thường không đủ để mua nền tái định cư,… Điều này phần nào đã phản ánh thực trạng là việc đảm bảo sinh kế bền vững, lâu dài cho các hộ dân chịu ảnh hưởng từ dự án vẫn chưa được xem xét và thực hiện một cách thỏa đáng. Vì vậy, việc xem xét “Phân tích ảnh hưởng của dự án đầu tư xây dựng nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá đến sinh kế của các hộ thuộc khu vực dự án” có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ góp phần làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến thay đổi thu nhập, ảnh hưởng sinh kế của người dân. Từ đó, đề tài sẽ phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập, đảm bảo sinh kế và ổn định cuộc sống mới cho người dân bị ảnh hưởng bởi dự án, đồng thời kiến nghị bổ sung, điều chỉnh các chính sách hỗ trợ, ổn định và phát triển sinh kế bền vững nhằm triển khai có hiệu quả hơn tại các đô thị tiếp theo trong chương trình nâng cấp đô thị quốc gia. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát của đề tài nghiên cứu là Phân tích ảnh hưởng của dự án đầu tư xây dựng nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá đến thu nhập và sinh kế của các hộ thuộc khu vực dự án.
Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá những yếu tố tác động đến thay đổi sinh kế của các hộ thuộc khu vực dự án. - Gợi ý các chính sách nhằm cải thiện sinh kế của người dân trong thời gian tới. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Câu hỏi 1: Các loại vốn nào tác động đến sinh kế của các hộ khu vực dự án? Câu hỏi 2: Cần có các chính sách gì để hỗ trợ giúp ổn định sinh kế cho người dân trong khu vực dự án? 1. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Giới hạn nội dung nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình và phân tích các loại vốn tác động đến sinh kế của các hộ do việc đầu tư xây dựng dự án nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá. Giới hạn vùng nghiên cứu Vùng nghiên cứu được lựa chọn trong vùng thực hiện dự án đầu tư nâng cấp đô thị tại 8 phường (Rạch Sỏi, An Hòa, An Bình, Vĩnh Lạc, Vĩnh Bảo, Vĩnh Thanh Vân, Vĩnh Thanh và Vĩnh Quang) trên địa bàn thành phố Rạch Giá. Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra trực tiếp với 150 hộ mang tính đại diện các hộ trong vùng dự án (50 hộ bị giải toả hoàn toàn và di dời đến nơi ở mới; 50 hộ bị giải toả một phần và không di dời chổ ở; 50 hộ không bị giải toả nhưng nằm trong vùng dự án). Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo của BQL dự án đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Rạch Giá, Chi cục Thống kê thành phố Rạch Giá, UBND thành phố Rạch Giá, Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang, UBND tỉnh Kiên Giang và WB tại Việt Nam.
Giới hạn thời gian nghiên cứu Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp từ thu thập nguồn số liệu trong vùng dự án được tổng hợp theo mẫu từ năm 2011 đến năm 2017 tại BQL dự án và số liệu thu thập sơ cấp từ điều tra 150 hộ tại mốc thời điểm năm 2011 và tại thời điểm năm 2017. CẤU TRÚC NGHIÊN CỨU Cấu trúc của đề tài gồm 5 chương. Trình bày khái quát những bối cảnh, nội dung cơ bản của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và tối tượng, phạm vi nghiên cứu. Chương II.
Trình bày những cơ sở lý thuyết, các kết quả nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. Chương III. Trình bày phương pháp nghiên cứu, khung phân tích, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu nhập dữ liệu và phân tích dữ liệu khảo sát. Chương IV.
Tóm tắt kết quả nghiên cứu và thảo luận các kết quả nghiên cứu liên quan đến thu nhập và sinh kế của các hộ dân thuộc dự án. Rút ra một số kết luận từ kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất một số khuyến nghị về chính sách nhằm đảo bảo sinh kế bền vững và thu nhập của các hộ dân khi bị ảnh hưởng dự án; nêu những hạn chế của đề tài và gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH NGHIÊN CỨU 2. LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT 2.
Hộ Theo Haviland (2003), một hộ gia đình (household) bao gồm một hoặc nhiều hơn những người cùng sống chung nhà ở và cùng chia sẻ các bữa ăn hoặc điều kiện sinh hoạt, có thể bao gồm một gia đình duy nhất hoặc một số nhóm người khác. Theo Arthur O'Sullivan và Steven M. Sheffrin (2003), một nơi cư trú riêng lẻ sẽ được coi là chứa nhiều hộ gia đình nếu có một trong hai bữa ăn hoặc không gian sống không được chia sẻ. Các hộ gia đình là đơn vị cơ bản của phân tích trong nhiều mô hình xã hội, kinh tế vi mô và của chính phủ, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và thừa kế.