CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Bối cảnh chính sách Hồ chứa nước Tầu Dầu được đề xuất xây dựng trên địa bàn xã Cư An – một xã nằm ở phía Đông của huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai, cách trung tâm huyện hơn 7 km theo đường Quốc lộ 19. Huyện Đăk Pơ là một huyện có 8 xã, chưa có thị trấn trong đó có tới 6 xã thuộc vùng khó khăn. Do đó, địa bàn này được hưởng nhiều chính sách ưu đãi như được miễn thuế thu nhập từ nông nghiệp, miễn thủy lợi phí, thậm chí những gia đình khó khăn và bị thiệt hại do bão lũ, thiên tai còn được cấp giống và phân bón.
Xã Cư An có cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp: nông nghiệp chiếm 45%, thương mại – dịch vụ 31%, công nghiệp 24% trong tổng giá trị sản phẩm của xã. Nguồn thu ngân sách của xã Cư An năm 2010 chỉ vào khoảng 2,7 tỷ đồng, số hộ nghèo và cận nghèo chiếm gần 28% trong tổng số hộ của xã. 2 Mặc dù số người tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm tới 70% tổng lao động của xã, diện tích canh tác bình quân 1,16 hecta/hộ nhưng sản lượng lúa sản xuất không đủ đáp ứng nhu cầu trên địa bàn 3. Sản lượng lúa năm 2010 chỉ đạt 11,79 tấn trong khi dân số toàn xã 6.445 người, tiêu thụ bình quân 180 - 200 kg gạo/người/năm 4 tương đương khoảng 1.
Ngoài việc khai thác không hiệu quả diện tích đất canh tác hiện hữu, địa phương cũng không tận dụng được toàn bộ phần diện tích đất nông nghiệp: diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn xã 2.294,18 hecta nhưng mới chỉ khai thác được 1.749 hecta, chiếm khoảng 76% tổng diện tích đất nông nghiệp; nguyên nhân do thiếu nguồn nước tưới. 5 Các công trình thủy lợi trên địa bàn xã mới chỉ đáp ứng cho việc tưới tiêu 12 hecta trên tổng diện tích gieo trồng 1.749 hecta, không đủ đáp ứng nhu cầu nước cho những loại cây trồng tiềm năng trên địa bàn bao gồm lúa, ngô, mì, mía và rau các loại. 6 Vì vậy, việc đầu tư các công trình thủy lợi để tăng diện tích đất canh tác được tưới tiêu là vấn đề chính sách lớn của địa phương. 2 UBND xã Cư An (2011), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2010, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2011.
3 Phòng Lao động Thương binh Xã hội huyện Đăk Pơ (2011), Báo cáo cung cầu lao động. 4 Ngân hàng kiến thức trồng lúa, Vai trò của lúa gạo, 16/12/2011, http://www.vn/Images/caylua/01/01_vaitroluagao.htm 5 Cục Thống kê tỉnh Gia Lai (2011), Niên giám Thống kê 2011. 6 UBND tỉnh Gia Lai (2010), Bảng thống kê các công trình thủy lợi đã xây dựng trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Giới thiệu dự án Dự án hồ chứa nước Tầu Dầu được đề xuất xây dựng trên địa bàn xã Cư An – Huyện Đăk Pơ – Tỉnh Gia Lai do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Gia Lai và UBND huyện Đăk Pơ làm chủ đầu tư.
Phụ lục 1-1 trình bày bản đồ vị trí của dự án. Mục tiêu của dự án Hồ chứa nước Tầu Dầu là nhằm cung cấp nguồn nước để tăng diện tích canh tác trên 250 ha đất nông nghiệp hiện bỏ hoang. Dự án Hồ Tầu Dầu nằm trong quy hoạch hệ thống thủy lợi vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn năm 2007 – 2010, phù hợp nhu cầu của người dân trên địa bàn cũng như đảm bảo được khả năng đáp ứng nguồn nước cho diện tích canh tác mở rộng. Dự án có tổng chi phí đầu tư 54,86 tỷ đồng (giá năm 2009) (Bảng 1-1).
7 Dự án đã được lập xong từ năm 2007, được UBND tỉnh Gia Lai ra quyết định đầu tư năm 2009 nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai xây dựng. Bảng 1-1: Tổng chi phí đầu tư dự án STT Hạng mục Giá trị (triệu đồng) 1 Chi phí xây dựng 34.735 2 Chi phí quản lý dự án 581 3 Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng 4.068 4 Chi phí khác 1.150 5 Chi phí đền bù 7.908 6 Chi phí dò, tìm xử lý bom, mìn 2.190 7 Chi phí dự phòng 4.227 Tổng chi phí 54.862 Nguồn: UBND tỉnh Gia Lai (2009), Quyết định số 1032/QĐ-UBND V/v phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hồ chứa nước Tầu Dầu, xã Cư An, huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai. Phụ lục 1-2 trình bày số liệu tính toán kỹ thuật của dự án do Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Nông Lâm nghiệp Gia Lai thực hiện. Dựa vào kết quả này, dự án khả thi về mặt kỹ thuật trong việc đáp ứng nhu cầu cấp nước cho 250 ha đất canh tác nông nghiệp.
Trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, nhu cầu chi tiêu ngân sách lớn thì một dự án chỉ có thể 7 UBND tỉnh Gia Lai (2009), Quyết định số 1032/QĐ-UBND V/v phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hồ chứa nước Tầu Dầu, xã Cư An, huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai. Trong tổng chi phí đầu tư, khoản mục chi phí tư vấn đầu tư xây dựng đã được bỏ ra và trở thành chi phí chìm. 3 được cấp vốn khi nó thực sự đem lại hiệu quả kinh tế. Thế nhưng Thuyết minh dự án đầu tư công trình Hồ chứa nước Tầu Dầu do Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Nông Lâm nghiệp Gia Lai lập chưa xác định được lợi ích và chi phí kinh tế của dự án.
Theo đề xuất ban đầu, nguồn vốn trái phiếu chính phủ sẽ được sử dụng để tài trợ cho dự án. Đây là dự án tự tưới nên trong giai đoạn vận hành chỉ tốn chi phí quản lý, duy tu. Bên cạnh đó, dự án được xây dựng trên địa bàn hưởng chính sách ưu đãi về thủy lợi phí và thuế thu nhập từ nông nghiệp nên dự án không có nguồn thu. Về mặt tài chính, dự án chưa xác định được cơ chế tài trợ khả thi để làm cơ sở thuyết phục Trung ương cung ứng vốn.
Đây chính là những vấn đề mà tác giả muốn hướng đến giải quyết trong luận văn “Phân tích lợi ích – chi phí của Dự án Hồ chứa nước Tầu Dầu”. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là thẩm định tính khả thi về mặt kinh tế và tài chính của dự án dựa trên khung phân tích lợi ích – chi phí. Cụ thể, tác giả tập trung trả lời hai câu hỏi chính sách: - Thứ nhất, dự án có khả thi về mặt kinh tế hay không xét trên lợi ích từ thu nhập ròng trồng lúa và các loại cây khác mang lại khi mở rộng được diện tích canh tác so với chi phí đầu tư và vận hành hồ chứa nước Tầu Dầu? - Thứ hai, xét về mặt tài chính, do nông dân sản xuất tại địa bàn khó khăn được miễn thủy lợi phí, thì dự án sẽ tạo ra gánh nặng ngân sách như thế nào nếu được đầu tư? 4 CHƯƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ Tác giả sử dụng lý thuyết lợi ích – chi phí (kinh tế và tài chính) nhưng xây dựng khung phân tích cụ thể cho một dự án thủy lợi phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Phân tích kinh tế 2.
So sánh kịch bản có và không có dự án Để khẳng định một dự án có đem lại hiệu quả kinh tế hay không, người phân tích không phải dựa vào những thành quả trước và sau khi có dự án mà phải dựa vào những khác biệt giữa tình trạng có và không có dự án để làm cơ sở đánh giá chi phí và lợi ích gia tăng của dự án. Hay nói cách khác, kết luận đi đến khẳng định lợi ích do dự án mang lại phải dựa trên thành quả ròng tăng thêm của dự án. Ở đây, vì dự án phục vụ cho diện tích trồng mới 250 hecta đất canh tác nên thành quả ròng tăng thêm do dự án mang lại cũng chính bằng lợi ích có được sau khi có dự án. Lựa chọn tiêu chí đánh giá tính khả thi của dự án 2.
Giá trị hiện tại ròng (NPV) Giá trị hiện tại ròng (NPV) là một tiêu chí thích hợp để đánh giá mức độ chấp nhận được của dự án thông qua việc so sánh những lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong khuôn khổ những lợi ích do dự án mang lại và những chi phí phát sinh từ dự án có thể đo lường được bằng tiền. NPV là giá trị hiện tại của ngân lưu vào trừ đi giá trị hiện tại của ngân lưu ra theo một suất chiết khấu thích hợp hay nói cách khác, NPV là giá trị hiện tại của ngân lưu ròng. NPV của dự án tạo ra chuỗi lợi ích (ngân lưu vào) Bo, B1, …, Bn và chuỗi chi phí (ngân lưu ra) Co, C1, …, Cn trong vòng đời của mình từ năm 0 đến năm n, suất chiết khấu r bằng: B1 − C1 B2 − C2 Bn − Cn n Bi − Ci NPV = B0 − Co + + (1 + r ) (1 + r ) 2 +. + (1 + r ) n = ∑ i = 0 (1 + r ) i Suất chiết khấu được sử dụng khi tính NPV kinh tế là chi phí cơ hội kinh tế của vốn – chi phí bỏ ra để có được nguồn lực sử dụng để tạo ra lợi ích cho toàn nền kinh tế.
Dự án được chấp thuận khi NPV hội đủ 2 điều kiện NPV của dự án không âm và NPV cao hơn NPV của một phương án thay thế loại trừ hoàn toàn dự án đang thẩm định. Tuy nhiên, dự án tác giả đang đề cập nằm trong quy hoạch hệ thống thủy lợi vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Gia 5 Lai giai đoạn 2007 – 2010, được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên thực hiện nên không thuộc diện dự án phải xem xét lại tính cạnh tranh hay loại trừ lẫn nhau với các dự án khác. Do đó, tiêu chí NPV dự án không âm đã đảm bảo đủ điều kiện để dự án được chấp thuận. Suất sinh lợi nội tại (IRR) Suất sinh lợi nội tại (IRR) của dự án là suất chiết khấu làm cho giá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0.
B1 − C1 B − C2 Bn − Cn n Bi − Ci Bo − Co + + 2 (1 + IRR) (1 + IRR) 2 +. + (1 + IRR) n = ∑ i = 0 (1 + IRR ) i =0 Dự án được chấp thuận khi IRR ≥ r, trong đó r là suất sinh lợi có được khi đem nguồn tiền đầu tư cho dự án đi đầu tư cho dự án khác.