mở đầu là một số đô thị đƣợc lựa chọn. Với quan điểm này, tác giả đã xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu để tạo lập đƣợc hành lang quy hoạch cho tƣơng lai đƣợc tốt hơn. Nguyễn Hồng Tiến (2019) đã thể hiện những bài viết thuộc lĩnh vực quy hoạch và hạ tầng kỹ thuật của tác giả đã tham gia báo cáo tại các hội thảo khoa học trong nƣớc và quốc tế hoặc từ những bài viết trên các tạp chí xây dựng chuyên ngành. Bài viết của tác giả là một trong những cơ sở lý luận quan trọng để làm tiền đề cho các nghiên cứu mang tính định hƣớng về công tác quy hoạch xây dựng trong tƣơng lai.
Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử (2018), đã chỉ ra rằng, quá trình đô thị hóa có quan hệ chặt chẽ với quá trình phát triển, công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành phố. Công nghiệp lan ra đến đâu thì đô thị hóa đi liền với nó và tạo nên bộ mặt khác cho cả vùng đô thị cũng nhƣ cho mỗi đô thị. Tô Xuân Dân, Vũ Trọng Lâm (2017), đã nhận định đối với Hà Nội chính sách đất đai và huy động vốn đầu tƣ từ các tập đoàn kinh tế có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với thành phố Hà Nội trong những năm vừa qua. Với nhận định này, tác giả đã đƣa ra những cơ sở lý luận, từ đó bám sát vào thực tiễn về các nguồn lực của Hà Nội để thực hiện công tác quy hoạch xây dựng theo định hƣớng Hoàng Cao Liêm (2018), đã đề cập tƣ duy hành chính thịnh hành đã ảnh hƣởng nhiều đến đô thị hóa kiểu hành chính.
Tức là chỉ bằng các quyết định hành chính mà đô thị kia đƣợc mọc lên, đô thị này đƣợc nâng cấp, chỉnh trang. Đô thị hóa kiểu hành chính đã làm cho cả thống đô thị mang tính “tự phát” và không có nguồn 5 lực để xây dựng đô thị. Các dự án đô thị mới đua nhau ra đời nhƣng nhiều dự án đô thị bị treo vì thiếu vốn để phát triển. Xuân Cƣờng (2019), đã cho thấy công tác quản lý trật tự đô thị trên địa bàn thƣờng chủ yếu “nóng” ở các khu vực nội thị, nội thành, nơi có tốc độ đô thị hóa cao, hệ thống hạ tầng giao thông tĩnh phát triển mới chƣa đáp ứng nhu cầu.
Nếu không có các giải pháp đồng bộ, nhất là không có sự vào cuộc của chính quyền cơ sở thì sẽ rất khó tạo sự chuyển biến. Gia Huy (2020), đã nêu 15 nội dung phối hợp; 20 đề xuất, kiến nghị trên 5 lĩnh vực chính với Bộ Xây dựng nhằm tăng cƣờng công tác phối hợp giải quyết những vấn đề, chủ trƣơng lớn về lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị của Thủ đô. Với các nội dung mà tác giả đề cập đến đều thể hiện những tính chất quan trọng của công tác quy hoạch xây dựng, tạo nên các vùng quy hoạch hoàn thiện theo kế hoạch đƣợc các cấp, các ngành phê duyệt. Các kết quả chính và khoảng trống nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu đã đƣa ra những kết quả quan trọng về công tác quản lý xây dựng đô thị. Những nghiên cứu và bài viết này đã một phần nào đó thể hiện sự cơ bản của công tác quản lý xây dựng đô thị thông qua việc tập trung vào các khía cạnh quy hoạch và quản lý xây dựng đô thị. Những công trình nghiên cứu đã phản ánh một cách rõ ràng và cụ thể về các nội dung cơ bản của công tác quản lý xây dựng đô thị. Đặc biệt, chúng đã minh họa một cách sắc nét về các nội dung cốt lõi của quản lý xây dựng đô thị.
Mặc dù có những kết quả nổi bật, tuy nhiên các nghiên cứu vẫn có những khoảng trống quan trọng. Cụ thể, những nghiên cứu mới chỉ có phần khái quát về công tác quản lý xây dựng đô thị tại một số địa phƣơng, nhƣng chƣa thực sự đi sâu vào việc phân tích các mặt cụ thể và chi tiết để làm nổi bật tầm quan trọng của công tác này. Ngoài ra, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các thành phố có quy mô lớn, do đó chƣa đủ sâu rộng trong việc phân tích chi tiết về các khía cạnh quản lý. Và hiện chƣa có bất kỳ nghiên cứu cụ thể nào đƣợc thực hiện tại huyện Thanh Oai, 6 thành phố Hà Nội trong lĩnh vực quản lý xây dựng đô thị.
Sự thiếu hụt thông tin và dữ liệu nghiên cứu về khu vực này tạo ra một khoảng trống đáng kể trong tài liệu nghiên cứu chuyên ngành. Điều này gây ra một hạn chế, khiến chúng ta vẫn đang ở mức độ quản lý vĩ mô chứ chƣa thể tiến xa vào các hạng mục quản lý một cách chi tiết và cụ thể hơn. Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng đô thị cấp huyện 1. Các khái niệm liên quan 1.1 Xây dựng Xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở.
Hoạt động xây dựng khác với hoạt động sản xuất ở chỗ sản xuất tạo một lƣợng lớn sản phẩm với những chỉ tiết giống nhau, còn xây dựng nhắm tới những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tƣợng khách hàng riêng biệt. Hoạt động xây dựng bắt đầu bằng việc lên kế hoạch, thiết kế, lập dự toán và thi công tới khi dự án hoàn tất và sẵn sàng đƣa vào sử dụng (Quốc hội, 2014). Công trình xây dựng là sản phẩm đƣợc tạo thành bởi sức lao động của con ngƣời, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, đƣợc liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dƣới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dƣới mặt nƣớc và phần trên mặt nƣớc, đƣợc xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác.
Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tƣ xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đƣa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Mặc dù hoạt động này thƣờng đƣợc xem là riêng lẻ, song trong thực tế, đó là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố. Đầu tiên, một nhà quản lý dự án chịu trách nhiệm quản lý công việc chung, sau đó những nhà thầu, kỹ sƣ tƣ vấn thiết kế, kỹ sƣ thi công, kiến trúc sƣ, tƣ vấn giám sát. chịu trách nhiệm điều hành, thực hiện và 7 giám sát hoạt động của dự án.
Một dự án thành công đòi hỏi một kế hoạch xây dựng hiệu quả, bao gồm việc thiết kế và thi công đảm bảo phù hợp với địa điểm xây dựng và đúng với ngân sách đề ra trong dự toán; tỏ chức thi công hợp lý, thuận tiện cho việc chuyên chở, lƣu trữ việc xây dựng; đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trƣờng, an toàn lao động; giảm thiểu những ảnh hƣởng tới cộng đồng. Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tƣ xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình (Quốc hội, 2014).2 Khái niệm về đô thị Đô thị là điểm tập trung dân cƣ với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện. Trong đó, trung tâm tổng hợp là những đô thị có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Trung tâm chuyên ngành là những đô thị có vai trò và chức năng chủ yếu về một mặt nào đó nhƣ công nghiệp cảng, du lịch – nghỉ dƣỡng, đầu mối giao thông… Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng hay của một tỉnh có thể cũng là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc toàn quốc. Do đó, việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định.
Lãnh thổ đô thị gồm nội thành hoặc nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô. Các đơn vị hành chính của nội thị gồm: Quận, phƣờng, còn các đơn vị hành chính của ngoại ô gồm: huyện và xã. Quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 4. Riêng ở miền núi, quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 2.
Quy mô này chỉ tính trong nội thị. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một đô thị không nhỏ hơn 60%. Tỷ lệ này chỉ tính trong nội thị. Các đơn vị hành chính của nội thị gồm: Quận và phƣờng, còn các đơn vị hành chính của 8 ngoại ô gồm huyện và xã.
Quản lý Quản lý hay quản trị là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con ngƣời. Theo quan điểm của Follet dƣới góc độ quan hệ con ngƣời, đã cho rằng “Quản trị” là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn đƣợc hành động thông qua ngƣời khác (Follett, 1927). Theo quan điểm của Stephen “Quản trị” là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của những ngƣời trong một tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức” (Stephen & cs. Từ các quan điểm trên, chúng tôi hiều rằng, “Quản lý” hay “Quản trị” là một thuật ngữ chỉ tác động một cách có ý thức của con ngƣời tới đối tƣợng quản lý nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hoạt động của con ngƣời để hƣớng đến những mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất trong mỗi điều kiện nhất định.
Cấu trúc tổ chức của quản lý gồm: (¡) Chủ thể quản lý; (ii) Đối tƣợng quản lý; (ii) Mục tiêu quản lý; (iv) Công cụ quản lý.