PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề án Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu, là nguyên nhân gây mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, sự phát triển toàn diện của con người và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Đất nước ta đã và đang từng bước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa đã và đang gây sức ép lớn cho môi trường, làm môi trường nước ta bị xuống cấp nhanh chóng bởi lẽ môi trường hàng ngày đã phải gánh chịu khối lượng lớn và đa chủng loại chất thải rắn từ các hoạt động sản xuất, đời sống sinh hoạt và y tế của con người gây ra… Trong những năm qua, nền kinh tế của cả nước đã có những bước phát triển hết sức quan trọng, cùng với sự gia tăng dân số và thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng lên, thì kèm theo đó là các sức ép lên tài nguyên thiên nhiên và môi trường cũng ngày một gia tăng, đăc biệt là vấn đề quản lý chất thải, thu gom xử lý chất thải rắn.
Thành phố Hòa Bình là trung tâm kinh tế, chính trị, hành chính, văn hóa của tỉnh Hòa Bình, có vị trí địa lý thuận lợi, mạng lưới giao thông đường bộ khá tốt, rất thuận tiện cho việc phát triển kinh tế - xã hội, trở thành cửa ngõ giao lưu giữa các tỉnh Tây Bắc với các tỉnh vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, Thủ đô Hà Nội. Thành phố Hòa Bình đã và đang phát triển hết sức nhanh chóng để phấn đấu trở thành đô thị loại II trước năm 2025. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn những mặt tiêu cực, những hạn chế mà thành phố đang phải đối mặt, đó là tình trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm và đặc biệt là vấn đề ô nhiễm chất thải rắn sinh hoạt đang trở nên rất nghiêm trọng. Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã đạt được những kết quả.
Tuy nhiên, công tác này vẫn còn những hạn chế, đó là: Đầu tư cho công tác quản lý nhà 2 nước về chất thải rắn sinh hoạt còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; ý thức của người dân tại thành phố Hòa Bình trong công tác đảm bảo vệ sinh môi trường chưa cao; công tác kiểm tra, xử lý những vi phạm về vệ sinh môi trường chưa được quan tâm và xử lý thường xuyên, kịp thời; công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nâng cao ý thức người dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường, phân loại rác thải, xả rác, đổ rác đúng giờ, đúng nơi quy định chưa đồng bộ, thiếu tính thường xuyên, kém hiệu quả. Xuất phát từ thực tế đó, tôi lựa chọn chủ đề “Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài nghiên cứu cho đề án tốt nghiệp thạc sỹ của mình. Mục tiêu của đề án 2. Mục tiêu tổng quát Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý Nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý Nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt. - Phân tích thực trạng công tác quản lý Nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình - Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề án là Công tác quản lý Nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt trên địa thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Đối tượng khảo sát: (cán bộ UBND thành phố, phòng QLĐT, phòng Tài nguyên và Môi trường), các hộ kinh doanh có phát sinh chất thải, công nhân trực tiếp thu gom chất thải và người dân. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác QLNN về chất thải thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. - Phạm vi về không gian: Đề án được nghiên cứu, thực hiện trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. - Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2021 - 2023.
Các số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2024. Về lý luận Đề án đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về công tác QLNN về chất thải rắn sinh hoạt; Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến công tác công tác QLNN về chất thải rắn sinh hoạt. Thông qua tổng kết và rút kinh nghiệm từ thực tiễn về công tác QLNN về chất thải thải rắn sinh hoạt của các địa phương khác để rút ra những bài học kinh nghiệm cho thành phố Hòa Bình. Về thực tiễn Đề án đã phân tích thực trạng công tác QLNN về chất thải thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Đồng thời làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về chất thải thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Từ đó tổng kết những thành tựu đạt được, những mặt còn tồn tại, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế. Đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về chất thải thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới Đề án là tài liệu tham khảo đối với công tác QLNN về chất thải thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và các địa phương khác có điều kiện tương đồng. 4 Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA ĐỀ ÁN 1.
Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về chât thải rắn sinh hoạt 1. Một số khái niệm 1.1 Chất thải Theo khoản 18 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020, chất thải được quy định như sau: Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [20]. Theo khoản 121 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020, chất thải được quy định như sau: Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [20]. Chất thải rắn sinh hoạt Bất kỳ một hoạt động sống của con người tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng…, đều sinh ra một lượng chất thải rắn đáng kể.
Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống. Cho nên, rác sinh hoạt có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt): là những chất thải liên quan đến hoạt động sống của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại [13]. Chất thải rắn sinh hoạt chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của các đô thị Việt Nam, khoảng 80%, có thành phần rất phức tạp.
Thành phần lý học, hóa học của chất thải khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị ngày càng có xu hướng biến đổi tăng các chất khó phân hủy, độc hại. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam được thể hiện ở Bảng 1. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt % trọng lượng Thành phần Khoảng giá trị Trung bình Chất thải rắn thực phẩm 6 - 25 15 Giấy 24 - 45 40 Carton 3 - 15 4 Chất dẻo 2-8 3 Vải vụn 0-4 2 Cao su, da vụn 0-4 1 Sản phẩm vườn 0 - 20 12 Gỗ 1-4 2 Thủy tinh 4 -16 8 Can hộp 2-8 6 Kim loại không thép 0-1 1 Kim loại thép 1-4 2 Bụi, tro, gạch 0 -10 4 Tổng hợp 100 (Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, 2001) 1.
Quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt Quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại ngày nay, nó góp phần không nhỏ trong việc làm trong sạch môi trường, phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường và góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân để đảm bảo cho họ được hưởng quyền sống trong môi trường không ô nhiễm. Quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế, loại bỏ hay thẩm tra các vật liệu chất thải đúng theo quy định [14]. 6 Cách quản lý chất thải rắn sinh hoạt có phần khác nhau tại những quốc gia phát triển và đang phát triển, tại khu vực đô thị và nông thôn.