Tổng quan luận án

Vấn đề ô nhiễm do chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng về khối lượng và mức độ phức tạp của thành phần. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019, tổng lượng CTRSH phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 64.658 tấn/ngày (khu vực đô thị chiếm 35.624 tấn/ngày và khu vực nông thôn chiếm 28.034 tấn/ngày). Để xử lý lượng chất thải này, giải pháp lắp đặt các lò đốt CTRSH quy mô nhỏ (công suất dưới 500 kg/h) được triển khai đại trà tại nhiều địa phương nông thôn. Cả nước có hơn 400 lò đốt CTRSH, trong đó khoảng 2/3 được sản xuất, lắp ráp trong nước (tiêu biểu là dòng lò Losiho với khoảng 150 lò) và một phần nhập khẩu (như Sankyo, BD-Anfa, T-Tech, TH-15, Lodora, SH-300).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các lò đốt quy mô nhỏ hiện nay chưa đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về xử lý khí thải; CTRSH đầu vào không qua phân loại; nhiệt độ buồng đốt không ổn định; người vận hành thiếu kỹ năng chuyên môn; và chưa có hệ thống xử lý khí thải thứ cấp hiệu quả để ngăn ngừa các chất hữu cơ độc hại như Polycyclic Aromatic Hydrocarbons (PAHs) và Benzene, Toluene, Ethylbenzene, Xylene (BTEX). Mặc dù các nghiên cứu về phát thải lò đốt công nghiệp hoặc giao thông đã được thực hiện, việc khảo sát thực trạng phát thải, xây dựng bộ hệ số phát thải, tính toán tải lượng và đánh giá rủi ro sức khỏe nghề nghiệp đối với nhóm PAHs và BTEX từ lò đốt CTRSH quy mô nhỏ tại khu vực nông thôn Việt Nam vẫn chưa có công trình thực hiện toàn diện.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá ô nhiễm của một số nhóm chất hữu cơ (được lựa chọn) trong khí thải lò đốt chất thải rắn sinh hoạt quy mô nhỏ.
  2. Đánh giá rủi ro của một số nhóm chất hữu cơ (được lựa chọn) đến sức khỏe công nhân vận hành lò đốt chất thải rắn sinh hoạt quy mô nhỏ.
  3. Xây dựng được bộ hệ số phát thải và tải lượng các chất ô nhiễm đặc trưng (PAH, BTEX) trong không khí từ hoạt động đốt chất thải rắn sinh hoạt.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Nhóm PAHs gồm 16 hợp chất: Naphthalene (Nap), Acenaphthylene (Acy), Acenaphthene (Ace), Fluorene (Flu), Phenanthrene (Phe), Anthracene (Ant), Fluoranthene (Flu/Flt), Pyrene (Pyr), Benzo[a]anthracene (BaA), Chrysene (Chr), Benzo[b]fluoranthene (BbF), Benzo[k]fluoranthene (BkF), Benzo[a]pyrene (BaP), Indeno[1,2,3-cd]pyrene (Ind), Dibenzo[a,h]anthracene (DahA) và Benzo[g,h,i]perylene (BghiP).
  • Nhóm BTEX gồm 04 hợp chất: Benzene, Toluene, Ethylbenzene và Xylene (đồng phân o, m, p-xylene).

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 4 xã, thị trấn thuộc hai tỉnh Nam Định và Vĩnh Phúc:
    • Tỉnh Vĩnh Phúc: Xã Tam Hợp (huyện Bình Xuyên) và thị trấn Yên Lạc (huyện Yên Lạc).
    • Tỉnh Nam Định: Thị trấn Cồn và xã Hải Lý (huyện Hải Hậu).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập chuỗi số liệu quan trắc thực địa và phân tích thực nghiệm từ năm 2020 đến các giai đoạn quan trắc 03 năm liên tiếp theo các đợt tháng 4, tháng 6, tháng 9 và tháng 11.
Thông tin tổng quan Chi tiết trích xuất từ văn bản
Tên luận án Nghiên cứu thực trạng phát thải của một số chất hữu cơ độc hại trong thành phần khí thải lò đốt rác sinh hoạt quy mô nhỏ
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng
Người hướng dẫn khoa học GS.TS. Vũ Đức Toàn, PGS.TS. Ngô Trà Mai
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành & Mã số Kỹ thuật Môi trường – Mã số: 9520320
Năm bảo vệ 2025

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn hướng trọng tâm:

  1. Nghiên cứu nồng độ và phương pháp phân tích hợp chất hữu cơ trong không khí:
  • Quốc tế: Tại Tây Ban Nha, nghiên cứu so sánh phương pháp chiết Soxhlet và chiết áp lực cao kết hợp HPLC và GC-MS để phân tích PAHs và dicarboxylic acids; tại Bắc Kinh (Trung Quốc) và Osaka (Nhật Bản), phương pháp chiết siêu âm với dung môi dichloromethane/methanol (2:1) hoặc dichloromethane/hexane kết hợp GC-MS được sử dụng để phân tích PAHs trong bụi tổng số (nồng độ đô thị Osaka đạt 1,94 ng/m³ cao hơn khu dân cư 1,52 ng/m³). Kenji Yasuda và Michimasa Takahashi (2011, Nhật Bản) khảo sát 4 lò đốt chất thải đô thị qua 3 giai đoạn (khởi động, duy trì cháy, dừng cháy), ghi nhận hệ số phát thải PAHs dao động từ 0,03 đến 0,9 mg/10³kg và nồng độ PAHs tăng vọt khi điều kiện cháy kém (nồng độ CO vượt 2.000 ppm). Nghiên cứu tại Jordan khảo sát BTEX từ lò sưởi gia đình (lò dầu hỏa phát thải 290 µg/m³); nghiên cứu của Mohd Talib Latif và cộng sự tại Kuala Lumpur (Malaysia) ghi nhận BTEX đạt 49,56 ± 23,71 µg/m³; tại Iran, Baghani và cộng sự phân tích BTEX tại trạm xăng dầu.
  • Việt Nam: Nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh sử dụng dung môi benzene/ethanol (3/1) và thiết bị HPLC, phát hiện các PAHs 5-6 vòng chiếm 51–82% tổng PAHs; nghiên cứu tại Hà Nội phân tích 15 PAHs và 11 nitro-PAHs (NPAHs) bằng GC-MS, ghi nhận nồng độ tăng cao vào mùa đông do phương tiện giao thông; các nghiên cứu BTEX tại tầng hầm đỗ xe Hà Nội của Võ Thị Lệ Hà và cộng sự (Benzene 16,99 µg/m³, Toluene 200,36 µg/m³, Xylene 625,22 µg/m³), tại đường Trường Chinh và Nguyễn Ngọc Nại, tại 17 tuyến đường TP. Hồ Chí Minh, và tại 10 trường mầm non Hà Nội (Nghiêm Trung Dũng và cộng sự).
  1. Nghiên cứu tỷ lệ đồng phân để nhận dạng nguồn thải:
  • Quốc tế: Anne Monod và cộng sự (2001) nghiên cứu tỷ lệ Xylene/Ethylbenzene (X/E dao động 2,81–4,63 tại 19 thành phố); Mark B. Yunker và cộng sự (2002, Columbia) thiết lập chỉ số Fluoranthene/(Fluoranthene + Pyrene) (Fl/(Fl+Py) dao động 0,22–0,72); Hisam Samae và cộng sự (2019, Đông Nam Á) ghi nhận tỷ lệ Fl/(Fl+Py) từ sinh khối đạt 0,26–0,63; Alice Dvorská và cộng sự (Châu Âu, Fl/(Fl+Py) từ 0,52–2,9); Wiriya và cộng sự (2016, Thái Lan) nghiên cứu đốt phế phẩm nông nghiệp (Fl/(Fl+Py) từ 0,49–0,52).
  • Việt Nam: Hoàng Quốc Anh và cộng sự (2020) nghiên cứu bụi lắng miền Bắc (Flt/(Flt+Pyr) từ 0,24–0,49); Trần Đình Trinh và cộng sự (2020) nghiên cứu tỷ lệ Toluene/Benzene (T/B) tại trường mầm non (1,62–2,58 mùa đông và 1,24–1,29 mùa hè); Võ Thị Quỳnh Trúc và cộng sự (2007) xác định tỷ lệ X/E từ giao thông (1,2–2,9); Nguyễn Thúy Ngọc và cộng sự (2020) khảo sát bụi lắng Quảng Ninh (Flt/(Flt+Pyr) từ 0,4–0,5).
  1. Nghiên cứu đánh giá rủi ro sức khỏe:
  • Quốc tế: Mohd Talib Latif và cộng sự (2019, Malaysia, rủi ro BTEX từ 1×10⁻⁵ đến 1×10⁻⁴); nghiên cứu cây xăng Bangkok (Thái Lan, 2012, rủi ro 1,82×10⁻⁴ đến 2,5×10⁻⁴); Liu J. và cộng sự (2018, Trung Quốc, rủi ro PAHs đường phố từ 1,0×10⁻⁶ đến 1,5×10⁻⁵); Abbas Norouzian Baghani và cộng sự (2019, Iran, rủi ro 2,11×10⁻⁴ đến 1,82×10⁻³); Taraneh Mihankhah và cộng sự (2020, Iran, rủi ro ung thư PAHs bụi đô thị là 2,89×10⁻⁴); Khanal R. và cộng sự (2018, Tokyo); Zivancec J. và cộng sự (2022, Serbia, rủi ro PAHs trong nhà đối với trẻ em 3,8×10⁻⁴, người lớn 3,73×10⁻⁴).
  • Việt Nam: Sổ tay hướng dẫn của Tổng cục Môi trường (2014) về kiểm kê POPs không chủ định; Nguyễn Công Tập (2015) đánh giá rủi ro BTEX tại Hai Bà Trưng, Hà Nội; Hà Thị Hồng (2022) đánh giá rủi ro PAHs bụi trong nhà; Nghiêm Trung Dũng và cộng sự (2020) đánh giá rủi ro BTEX học đường.
  1. Nghiên cứu hệ số phát thải (Emission Factor - EF):
  • Quốc tế: Didin Agustian Permadi và Nguyễn Thị Kim Oanh (2013, Indonesia, EF đốt sinh khối là 7,0 g/kg); Wen-bu Shu và cộng sự (2017, Thẩm Quyến - Trung Quốc, EF lò đốt rác đô thị là 35,2 µg/kg); Arunrat và Sereenonchai (2018, Thái Lan, EF đốt nông nghiệp 4,5 g/kg); Hisam Samae và cộng sự (2021, EF từ 0,005 đến 0,044 mg/kg); Hall D.-M. (Florida, Mỹ, EF đốt mía từ 7,13 đến 8,18 mg/kg); cùng các hướng dẫn quốc tế như AP-42 của US EPA, tài liệu WHO và EEA.
  • Việt Nam: Nguyễn Thị Kim Oanh và Nghiêm Trung Dũng (1999) nghiên cứu phát thải PAHs từ đốt nhiên liệu; Hoàng Anh Lê và cộng sự (2013) tính toán phát thải đốt rơm rạ Thái Bình; Pham C. và cộng sự nghiên cứu phát thải PAHs và NPAHs từ đốt rơm rạ lộ thiên.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung giải quyết việc thiếu hụt dữ liệu phát thải thực tế, tỷ lệ đồng phân nhận diện, hệ số phát thải, tải lượng và mức độ rủi ro sức khỏe nghề nghiệp của 16 PAHs và 4 BTEX đối với loại hình lò đốt CTRSH quy mô nhỏ cấp xã/thị trấn tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm

  • Khái niệm và đặc tính PAHs: Hydrocarbon thơm đa vòng gồm 2 vòng benzen trở lên gắn kết, hình thành do quá trình cháy không hoàn toàn chất hữu cơ. PAHs phân tử lượng càng lớn càng bền vững và độc tính cao. Luận án nghiên cứu 16 chất PAHs tiêu chuẩn theo US EPA.
  • Khái niệm và đặc tính BTEX: Nhóm hydrocarbon thơm bay hơi gồm Benzene, Toluene, Ethylbenzene, Xylene (công thức tổng quát $C_n H_{2n-6}$, $n \ge 6$). Benzene được IARC xếp vào Nhóm 1 và US EPA xếp vào Nhóm A (chất gây ung thư ở người); Toluene, Ethylbenzene và Xylene gây độc thần kinh và suy giảm chức năng cơ quan nội tạng.
  • Tiêu chuẩn nhóm POPs: Độ bền (thời gian bán hủy >2 tháng trong nước, >6 tháng trong đất/trầm tích, >2 ngày trong không khí); tích tụ sinh học ($\lg K_{ow} > 5$, BCF/BAF > 5.000).
Ký hiệu chất $\lg K_{ow}$ $\lg K_{oc}$ Độ tan trong nước ($\mu\text{g/L}$) Hằng số Henry ($\text{Pa}\cdot\text{m}^3/\text{mol}$)
Naphthalene (Nap) 3,34 3,13 31.900 50,4
Acenaphthylene (Acy) 3,55 3,34 16.100 11,6
Acenaphthene (Ace) 3,92 3,71 4.160 13,9
Fluorene (Flu) 4,18 3,97 1.880 8,7
Phenanthrene (Phe) 4,502 4,292 1.034 3,8
Anthracene (Ant) 4,68 4,47 47 5,0
Fluoranthene (Flu) 5,18 4,97 227 1,1
Pyrene (Pyr) 4,96 4,75 124 1,2
Benzo[a]anthracene (BaA) 5,91 5,70 10,2 0,47
Chrysene (Chr) 5,81 5,60 1,61 0,24
Benzo[b]fluoranthene (BbF) 6,124 5,914 1,28 0,067
Benzo[k]fluoranthene (BkF) 6,11 5,90 0,93 0,059
Benzo[a]pyrene (BaP) 6,13 5,92 1,5 0,059
Dibenzo[a,h]anthracene (DahA) 6,55 6,29 0,91 0,035
Benzo[g,h,i]perylene (BghiP) 6,22 6,01 0,31 0,034
Indeno[1,2,3-cd]pyrene (Ind) 6,584 6,374 0,19 0,035

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp điều tra, thu thập số liệu: Khảo sát thực địa tình hình phát sinh CTRSH, công nghệ lò đốt (Sankyo, Losiho) và hồ sơ quản lý rác thải tại Vĩnh Phúc (Quyết định 3235/QĐ-UBND) và Nam Định (Quyết định 2081/QĐ-UBND).
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích thực nghiệm:
    • Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng: Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT và Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT.
    • Lấy mẫu PAHs: Khí thải và không khí xung quanh được thu nhận qua màng lọc PTFE (bụi) và ống chứa chất hấp phụ XAD-2 (pha khí).
    • Lấy mẫu BTEX: Hấp phụ qua ống than hoạt tính tiêu chuẩn.
    • Thiết bị phân tích: Sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC-MS).
  • Phương pháp đánh giá rủi ro sức khỏe:
    • Đánh giá nguy cơ ung thư qua đường hô hấp theo CalEPA/WHO thông qua nồng độ quy đổi BaP tương đương ($\sum \text{BaP}{eq} = \sum C_i \times \text{TEF}i$) và hệ số đơn vị rủi ro ung thư ($\text{UR}{\text{BaP}} = 8,7 \times 10^{-5} \text{ ng/g}$): $$\text{ECR} = \sum \text{BaP}{eq} \times \text{UR}_{\text{BaP}}$$
    • Đánh giá theo liều lượng tiêu thụ trung bình hàng ngày và nguy cơ ung thư gia tăng suốt đời (ILCR), tỷ số nguy hại (Hazard Quotient - HQ) và chỉ số rủi ro (Hazard Index - HI) theo US EPA (2011).
    • Mô hình mô phỏng xác suất Monte Carlo: Đánh giá độ biến thiên, độ không chắc chắn và phân bố xác suất rủi ro tại phân vị 95% ($P_{95%}$) cho công nhân vận hành theo các kịch bản thời gian phơi nhiễm ($ED = 4\text{ năm}$; $ET = 4\text{ giờ/ngày}$).
    • Mô hình ước lượng và đánh giá mức độ phơi nhiễm (EASE) và mô hình hai vùng Trường gần/Trường xa (NF/FF model): $$\text{Trường gần: } V_{NF} \frac{dC_{NF}}{dt} = C_{FF} Q_{NF} - C_{NF} Q_{NF} + G$$ $$\text{Trường xa: } V_{FF} \frac{dC_{FF}}{dt} = C_{NF} Q_{FF} - C_{FF} Q_{NF} - C_{FF} Q_{FF}$$
  • Phương pháp tính hệ số phát thải và tải lượng:
    • Áp dụng công thức theo Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật của Tổng cục Môi trường (2014): $$\text{EF}_{air} = \frac{C \times T \times V \times S}{M}$$ Trong đó: $C$ là nồng độ chất ô nhiễm trong khí thải ($\mu\text{g/m}^3$); $T$ là thời gian lấy mẫu (giây); $V$ là vận tốc khí thải (m/s); $S$ là diện tích tiết diện ống khói ($\text{m}^2$); $M$ là khối lượng CTRSH được đốt (kg).
    • Phương pháp mô hình Gifford & Hanna (1973) và công thức Guoliang và cộng sự cho pha khí và pha bụi.
    • Tải lượng phát thải xác định dựa trên tích số của nồng độ chất ô nhiễm, lưu lượng dòng khí thải và thời gian hoạt động của lò đốt.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về CTRSH và phát thải chất hữu cơ độc hại:

  • Phân tích hiện trạng phát sinh và xử lý CTRSH tại Việt Nam: 71% chôn lấp (35.000 tấn/ngày), 16% làm compost (7.900 tấn/ngày), 13% đốt (6.400 tấn/ngày). Đa số lò đốt nông thôn xây dựng sau năm 2014, công suất nhỏ dưới 500 kg/h.
  • Hiện trạng tại 2 tỉnh nghiên cứu:
    • Vĩnh Phúc phát sinh 920 tấn/ngày (nông thôn 570 tấn/ngày, đô thị 350 tấn/ngày); thị trấn Yên Lạc phát sinh 10,5 tấn/ngày, xã Tam Hợp phát sinh 6,3 tấn/ngày. Tỷ lệ chôn lấp 75%, đốt 25% với 37 lò đốt cấp xã và 01 nhà máy tập trung (75 tấn/ngày đêm tại Hợp Hòa, Tam Dương).
    • Nam Định phát sinh 846 tấn/ngày (nông thôn 660 tấn/ngày, huyện Hải Hậu 214 tấn/ngày). Toàn tỉnh có 109 lò đốt cấp xã (công suất 300–500 kg/h, cá biệt 1.000 kg/h) và 01 khu xử lý tập trung Lộc Hòa (250 tấn/ngày).
  • Tổng quan tính chất lý - hóa, cơ chế chuyển hóa và con đường phơi nhiễm của 16 PAHs và 4 hợp chất BTEX.
  • Trích dẫn dữ liệu phát thải PAHs từ lò đốt thực nghiệm tại Nhật Bản của Kenji Yasuda (4 loại lò I, II, III, IV) chứng minh nồng độ PAHs cao nhất trong giai đoạn khởi động lò và khi nồng độ CO trong khí thải tăng cao (>2.000 ppm).
  • Hệ thống hóa các phương pháp đánh giá tỷ lệ đồng phân, phương pháp đánh giá rủi ro sức khỏe (CalEPA, US EPA, mô hình Monte Carlo, EASE, NF/FF) và các mô hình tính hệ số phát thải (Gifford - Hanna, Guoliang, Tổng cục Môi trường).

Chương 2: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết căn cứ thực tế và các quy trình kỹ thuật:

  • Cơ sở lựa chọn địa bàn nghiên cứu: Lựa chọn 4 lò đốt rác quy mô nhỏ thuộc dòng công nghệ Losiho và Sankyo đại diện tại Yên Lạc, Tam Hợp (Vĩnh Phúc) và Cồn, Hải Lý (Nam Định).
  • Quy trình lấy mẫu khí thải tại ống khói lò đốt và không khí xung quanh lò đốt theo chuỗi thời gian 3 năm và theo các tháng đại diện mùa (tháng 4, 6, 9, 11) tuân thủ Thông tư 24/2017/TT-BTNMT và 10/2021/TT-BTNMT.
  • Thiết lập quy trình tiền xử lý mẫu, chiết tách bằng dung môi hữu cơ và phân tích định lượng trên hệ thống sắc ký khí khối phổ (GC-MS).
  • Ứng dụng hệ số độc tương đương (TEF) cho 16 PAHs và các tham số phơi nhiễm để thiết lập phương trình toán học đánh giá rủi ro ung thư (ECR, ILCR) và rủi ro phi ung thư (HQ, HI).
  • Xây dựng thuật toán mô phỏng Monte Carlo để phân tích độ nhạy của các biến số tác động lên phương sai rủi ro của người lao động.
  • Thiết lập công thức tính hệ số phát thải và tải lượng ô nhiễm từ số liệu đo đạc thực địa về lưu lượng, nhiệt độ, vận tốc dòng khí và khối lượng rác đốt.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận chuyên sâu:

  • Đặc điểm thành phần CTRSH: Phân tích thành phần rác thải tại Yên Lạc, Tam Hợp, Cồn và Hải Lý; so sánh tỷ lệ các thành phần hữu cơ, nilon/nhựa và độ ẩm với một số địa phương khác qua các năm.
  • Ô nhiễm PAHs trong khí thải và không khí xung quanh:
    • Kết quả phân tích PAHs năm 2020 và diễn biến trung bình 3 năm trong mẫu khí thải ống khói và không khí xung quanh tại Nam Định và Vĩnh Phúc.
    • Phân loại tỷ lệ nồng độ theo nhóm PAHs phân tử lượng thấp (L-PAHs), trung bình (M-PAHs) và cao (H-PAHs).
    • Xác định tỷ lệ đồng phân đặc trưng của PAHs trong không khí xung quanh lò đốt để phân biệt nguồn phát thải do đốt rác sinh hoạt.
    • Đánh giá rủi ro sức khỏe từ PAHs đối với công nhân vận hành lò đốt: nồng độ tiếp xúc thực tế, liều lượng tiếp xúc cấp tính, nguy cơ gây ung thư trong các đợt quan trắc tháng 4 và tháng 6, cùng kết quả phân tích mức độ đóng góp của các yếu tố vào phương sai rủi ro bằng mô phỏng Monte Carlo.
  • Ô nhiễm BTEX trong khí thải và không khí xung quanh:
    • Nồng độ các hợp chất Benzene, Toluene, Ethylbenzene và Xylene trong khí thải ống khói và không khí xung quanh lò đốt qua các tháng quan trắc (tháng 4, 6, 9, 11) tại Nam Định và Vĩnh Phúc.
    • Diễn biến nồng độ và tỷ lệ đồng phân BTEX trong không khí khu vực lò đốt.
    • Đánh giá rủi ro sức khỏe từ BTEX đối với người lao động: liều hấp thụ trung bình, mức độ rủi ro ung thư do Benzene và rủi ro phi ung thư do Toluene/Xylene với kịch bản làm việc 4 năm ($ED = 4$), 4 giờ/ngày ($ET = 4$); tính toán xác suất phân vị 95% ($P_{95%}$) về nguy cơ ung thư và rủi ro nguy hại.
  • Xác định hệ số phát thải (EF): Tính toán bộ hệ số phát thải cho 16 PAHs và 4 hợp chất BTEX trong khí thải ống khói lò đốt CTRSH quy mô nhỏ tại Nam Định và Vĩnh Phúc.
  • Xác định tải lượng phát thải: Tính toán tổng tải lượng phát tán của 16 PAHs và 4 hợp chất BTEX từ khí thải lò đốt CTRSH tại các địa bàn nghiên cứu.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Đóng góp về mặt khoa học:
  • Xây dựng được bộ dữ liệu về hệ số phát thải đặc trưng cho 2 nhóm chất hữu cơ độc hại trong khí thải lò đốt CTRSH quy mô nhỏ tại khu vực nghiên cứu, bao gồm: 16 hợp chất PAHs và 04 hợp chất BTEX.
  • Xác định được tỷ lệ đồng phân đặc trưng của PAHs và BTEX trong không khí xung quanh khu vực lò đốt rác quy mô nhỏ làm cơ sở nhận dạng nguồn phát thải do hoạt động đốt CTRSH nông thôn.
  • Bước đầu xác định tải lượng phát thải và lượng hóa mức độ rủi ro sức khỏe nghề nghiệp (rủi ro ung thư và rủi ro phi ung thư) đối với công nhân vận hành lò đốt bằng phương pháp mô phỏng xác suất Monte Carlo.
  1. Đóng góp về mặt thực tiễn:
  • Cung cấp bộ hệ số phát thải phục vụ trực tiếp cho công tác kiểm kê khí thải, dự báo ô nhiễm và đánh giá tác động môi trường của các cơ sở xử lý CTRSH bằng phương pháp đốt quy mô nhỏ.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tế giúp các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND các tỉnh Vĩnh Phúc, Nam Định và các địa phương khác) xem xét điều chỉnh chính sách, quy chuẩn kỹ thuật và định hướng đầu tư công nghệ xử lý chất thải rắn bền vững tại khu vực nông thôn.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Rà soát, kiểm soát chặt chẽ công nghệ và quy trình vận hành của các lò đốt CTRSH quy mô nhỏ cấp xã; từng bước thay thế, đóng cửa các lò đốt thô sơ, không đạt quy chuẩn kỹ thuật.
  • Bắt buộc thực hiện phân loại rác thải tại nguồn nhằm giảm thiểu lượng nhựa, hợp chất chứa halogen và độ ẩm đi vào lò đốt, hạn chế hình thành các hợp chất hữu cơ độc hại.
  • Cải tiến kỹ thuật lò đốt: đảm bảo nhiệt độ buồng đốt sơ cấp và thứ cấp đạt trên 1.000°C, trang bị tháp hấp phụ than hoạt tính và hệ thống hạ nhiệt nhanh khí thải trong khoảng 400–600°C để ngăn ngừa phát sinh ô nhiễm thứ cấp.
  • Trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động chuyên dụng và quy định thời gian làm việc hợp lý cho công nhân vận hành lò đốt để giảm thiểu thời gian phơi nhiễm trực tiếp với khí thải độc hại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi nghiên cứu thực địa tập trung tại 4 xã, thị trấn thuộc 2 tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng (Vĩnh Phúc và Nam Định) trên các dòng lò đốt phổ biến (Losiho, Sankyo); chưa bao phủ toàn bộ các kiểu công nghệ lò đốt khác trên phạm vi cả nước.
    • Đánh giá rủi ro sức khỏe chủ yếu tập trung vào đối tượng tiếp xúc trực tiếp là công nhân vận hành lò đốt tại môi trường làm việc, chưa mở rộng đánh giá dịch tễ học dài hạn cho toàn bộ cộng đồng dân cư sinh sống lân cận.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quan trắc và xác định hệ số phát thải cho các công nghệ lò đốt CTRSH quy mô công nghiệp, lò đốt rác phát điện và lò đốt rác tại các vùng sinh thái khác nhau.
    • Nghiên cứu bổ sung cơ chế hình thành và phát thải đồng thời của các hợp chất hữu cơ khó phân hủy khác như Dioxin/Furan (PCDD/Fs), PCBs và PBDEs trong khí thải và tro xỉ lò đốt.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường, Hóa học Môi trường: Tham khảo quy trình lấy mẫu, phương pháp chiết tách và định lượng PAHs, BTEX trên thiết bị GC-MS; phương pháp luận mô phỏng Monte Carlo trong đánh giá rủi ro sức khỏe và mô hình tính toán hệ số phát thải.
  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường các địa phương: Sử dụng số liệu hệ số phát thải và tải lượng để phục vụ công tác kiểm kê khí thải quốc gia, xây dựng quy chuẩn kỹ thuật về khí thải lò đốt CTRSH và thẩm định các dự án xử lý chất thải rắn nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng hợp chất hữu cơ cụ thể nào được luận án lựa chọn nghiên cứu trong khí thải lò đốt rác? Luận án tập trung vào hai nhóm chất: Nhóm PAHs gồm 16 hợp chất (Naphthalene, Acenaphthylene, Acenaphthene, Fluorene, Phenanthrene, Anthracene, Fluoranthene, Pyrene, Benzo[a]anthracene, Chrysene, Benzo[b]fluoranthene, Benzo[k]fluoranthene, Benzo[a]pyrene, Indeno[1,2,3-cd]pyrene, Dibenzo[a,h]anthracene, Benzo[g,h,i]perylene) và nhóm BTEX gồm 04 hợp chất (Benzene, Toluene, Ethylbenzene, o,m,p-Xylene).

2. Địa bàn khảo sát thực tế của luận án được tiến hành tại những địa phương nào? Nghiên cứu được tiến hành tại 4 xã, thị trấn thuộc 2 tỉnh: Xã Tam Hợp (huyện Bình Xuyên) và thị trấn Yên Lạc (huyện Yên Lạc) thuộc tỉnh Vĩnh Phúc; Thị trấn Cồn và xã Hải Lý (huyện Hải Hậu) thuộc tỉnh Nam Định.

3. Công thức nào được luận án sử dụng để tính toán hệ số phát thải ($EF_{air}$) từ khí thải ống khói lò đốt? Luận án áp dụng công thức theo Sổ tay hướng dẫn của Tổng cục Môi trường (2014): $$\text{EF}_{air} = \frac{C \times T \times V \times S}{M}$$ Trong đó $C$ là nồng độ chất ô nhiễm ($\mu\text{g/m}^3$), $T$ là thời gian lấy mẫu (giây), $V$ là vận tốc dòng khí (m/s), $S$ là diện tích tiết diện ống khói ($\text{m}^2$), và $M$ là khối lượng CTRSH đem đốt (kg).

4. Mô hình nào được sử dụng để đánh giá độ không chắc chắn và phân bố xác suất rủi ro sức khỏe đối với công nhân vận hành? Luận án sử dụng mô hình mô phỏng xác suất Monte Carlo kết hợp các mô hình đánh giá phơi nhiễm (EASE, mô hình hai vùng Trường gần/Trường xa NF/FF) để định lượng sự biến thiên, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phương sai và tính toán rủi ro ung thư ở phân vị xác suất $P_{95%}$.

5. Cơ sở pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật nào được áp dụng cho quy trình quan trắc lấy mẫu không khí trong luận án? Quy trình lấy mẫu khí thải và không khí xung quanh được thực hiện theo Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT (quy định kỹ thuật quan trắc môi trường) và Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT (quy trình kỹ thuật quan trắc không khí xung quanh) của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Tiến Dũng đã nghiên cứu thực trạng phát thải của 16 hợp chất PAHs và 4 hợp chất BTEX trong thành phần khí thải lò đốt chất thải rắn sinh hoạt quy mô nhỏ tại Nam Định và Vĩnh Phúc. Tác giả đã kết hợp các phương pháp lấy mẫu chuẩn, phân tích thực nghiệm trên GC-MS, tính toán hệ số phát thải, tải lượng và ứng dụng mô phỏng Monte Carlo để đánh giá rủi ro sức khỏe đối với công nhân vận hành. Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ số liệu thực nghiệm về hệ số phát thải và tỷ lệ đồng phân đặc trưng của các chất hữu cơ độc hại từ hoạt động đốt CTRSH cấp xã. Đây là cơ sở khoa học phục vụ công tác kiểm kê phát thải, đánh giá rủi ro và hỗ trợ các cơ quan quản lý trong việc nâng cao hiệu lực quản lý chất lượng môi trường không khí tại khu vực nông thôn.