CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tiềm năng nguồn CO2 trong các mỏ khí có hàm lượng CO2 cao ở Việt Nam 1.1 Tổng quan phân bố khí thiên nhiên tại Việt Nam Việt nam là quốc gia đứng thứ 28 trên tổng số 52 nước trên thế giới có tài nguyên dầu khí. Việt nam đứng thứ nhất trong khu vực Đông Nam Á về trữ lượng dầu thô xác minh (khoảng 4,4 tỷ thùng) và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Malaysia) về trữ lượng khí xác minh (khoảng 0,6 nghìn tỷ m3). Hiện Việt Nam có 6 bể khí chính gồm (hình 1.1): bể Sông Hồng, bể Nam Côn Sơn, bể Cửu Long, bể Malay – Thổ Chu, bể Phú Khánh và bể Tư Chính–Vũng Mây[2].1 Các bể khí chính của Việt Nam [2] Bể trầm tích Sông Hồng có diện tích khoảng 110.000 km2, bao gồm toàn bộ vùng lãnh hải của Việt Nam từ Móng Cái đến Quãng Ngãi và phần đất liền thuộc đồng bằng Bắc Bộ của các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định [3]. Trang 3 Luận văn thạc sĩ HVCH: Đỗ Thị Hồng Hạnh Các giếng khoan đầu tiên chủ yếu nằm ở các tỉnh Thái Bình và Hưng Yên ở độ sâu từ 1000m đến hơn 3000m.
Mỏ khí đầu tiên được phát hiện là mỏ “Tiền Hải C” và được đưa vào khai thác từ năm 1981, trở thành biểu tượng ngọn lửa của Ngành Công nghiệp Dầu khí Việt Nam. Cho đến nay, ở bể trầm tích Sông Hồng, ngoài mỏ Tiền Hải C, chúng ta đã có các mỏ và phát hiện dầu khí khác như: Đông Quan D, B10, Hồng Long, Hoàng Long, Yên Tử, Hàm Rồng, Hàm Rồng Nam, Hàm Rồng Đông, Thái Bình, Hạ Mai, Báo Vàng, Báo Đen, Báo Gấm, Bạch Trĩ, Cá Voi Xanh. Về tiềm năng dầu khí, bể trầm tích Sông Hồng được xếp thứ 3 ở trên thềm lục địa Việt Nam, đứng sau các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn. Bể trầm tích Hoàng Sa có diện tích khoảng trên 70.000 km2, nằm ở ngoài khơi cửa Vịnh Bắc Bộ, trong đó có huyện đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Tuy nhiên cho đến nay ở bể trầm tích Hoàng Sa chưa có một giếng khoan thăm dò dầu khí nào được triển khai. Vì vậy, tiềm năng dầu khí của bể vẫn còn là một ẩn số [3]. Bể trầm tích Phú Khánh có diện tích khoảng 80.000 km2, nằm ở ngoài khơi biển Nam Trung Bộ, kéo dài từ Quảng Ngãi đến Phan Thiết. Cho đến nay, ngoài khảo sát thu nổ địa chấn, đã khoan một số giếng khoan thăm dò và phát hiện được dầu khí ở các mỏ Cá Voi Xanh, Cá Heo, Cá Mập, Tuy Hòa.
Bể trầm tích dầu khí Cửu Long có diện tích khoảng 36.000 km2, nằm dọc theo bờ biển Vũng Tàu - Bình Thuận. Ở bể trầm tích dầu khí Cửu Long đã phát hiện các mỏ dầu khí lớn như Bạch Hổ, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng, Sư Tử Nâu, Tê Giác Trắng, Hải Sư Trắng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Kình Ngư Trắng. Hiện nay, sản lượng khai thác dầu hàng năm của bể trầm tích dầu khí Cửu Long chiếm hơn 80% tổng sản lượng khai thác của Ngành Dầu khí. Bể trầm tích dầu khí Nam Côn Sơn nằm ở vùng Đông Nam thềm lục địa Việt Nam với diện tích khoảng 100.
đã phát hiện được nhiều mỏ dầu khí như Đại Hùng, Lan Tây - Lan Đỏ, Rồng Đôi Tây, Chim Sáo, Hải Thạch, Mộc Tinh, Thiên Ưng, Cá Rồng Đỏ, Dừa, Đại Nguyệt, Kim Cương Tây, Gấu Chúa. Bể trầm tích Tư Chính- Vũng Mây nằm ở vùng nước sâu trên thềm lục Đông Nam Việt Nam có diện tích khoảng 90. Do điều kiện nước biển sâu nên Trang 4 Luận văn thạc sĩ HVCH: Đỗ Thị Hồng Hạnh công tác khoan còn hạn chế. Tuy nhiên, tiềm năng dầu khí của bể trầm tích Tư Chính – Vũng Mây được đánh giá có triển vọng khá.
Bể trầm tích Trường Sa nằm ở vùng nước sâu và xa bờ Đông Nam Việt Nam, bao gồm cả huyện đảo Trường Sa của nước ta, có diện tích khoảng 200. Tiềm năng dầu khí của bể trầm tích Trường Sa chưa được đánh giá. Bể trầm tích dầu khí Mã lai -Thổ Chu nằm ở thềm lục địa Tây - Nam Việt nam, ngoài khơi bờ biển Cà Mau - Hà Tiên, có diện tích khoảng 80. Một khối lượng lớn khảo sát địa chấn và khoan đã được triển khai và đã phát hiện được nhiều mỏ dầu khí như Kim Long, Ác Quỷ, Cá Voi, Sông Đốc - Năm Căn, Hoa Mai, Ngọc Hiển, Phú Tân, Khánh Mỹ, U Minh, Cái Nước, Đầm Dơi.
Sản lượng khai thác dầu khí hàng năm ở đây đang đứng thứ ba, sau các bể trầm tích dầu khí Cửu Long và Nam Côn Sơn.2 Sơ lược về chất lượng các mỏ khí tại Việt Nam Để lựa chọn được giải pháp công nghệ phù hợp cho việc khai thác chế biến khí thì chất lượng hay thành phần khí trong các mỏ là một yếu tố quan trọng cần được xem xét kỹ trước khi quyết định đầu tư khai thác. Bể Cửu Long Bảng 1.1 Chất lượng khí đồng hành các mỏ thuộc bể Cửu Long [2] Trang 5 Luận văn thạc sĩ HVCH: Đỗ Thị Hồng Hạnh Khí khai thác từ bể Cửu Long có hàm lượng tạp chất thấp, hàm lượng CO2 hầu như không có hoặc không đáng kể. Do đó, khí thiên nhiên thu được từ bể Cửu Long không cần xử lý. Bể Nam Côn Sơn Bảng 1.2 Chất lượng khí các mỏ thuộc bể Nam Côn Sơn [2] Khí khai thác từ bể Nam Côn Sơn nhìn chung có hàm lượng CO2 thấp và không cần xử lý trong các trường hợp sử dụng cho phát điện.
Bể Malay-Thổ Chu Bảng 1.3 Chất lượng khí các mỏ thuộc khu vực bể Malay-Thổ Chu [2] Hàm lượng khí CO2 ở mỏ Malay-Thổ Chu khá cao, cần được tiến hành xử lý trước khi chế biến khí. Trang 6 Luận văn thạc sĩ HVCH: Đỗ Thị Hồng Hạnh Bể Sông Hồng Bảng 1.4 Chất lượng khí các mỏ khí thuộc khu vực bể Sông Hồng [2] Các mỏ khí tại bể Sông Hồng có thành phần khí khác nhau thay đổi trong khoảng rộng với hàm lượng CO2 cao do đó khá khó khăn để khai thác khí tại bể Sông Hồng hiệu quả.3 Đánh giá chung các bể khí thiên nhiên có hàm lượng CO2 cao tại Việt Nam Trữ lượng khí thiên nhiên của Việt Nam được ước lượng khoảng 4000 tỷ m3, nước ta đang khai thác khí thiên nhiên tại hai khu vực chính là bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn với thành phần CO2 thấp (hoặc không chứa khí CO2), khí hydrocacbon được khai thác có hiệu quả và mang lại giá trị kinh tế cao.2 Sản lượng khai thác khí hàng năm giai đoạn 1986-2015 Trang 7 Luận văn thạc sĩ HVCH: Đỗ Thị Hồng Hạnh Nhu cầu sử dụng khí thiên nhiên tăng cao đã thúc đẩy việc khai thác khí Việt nam tăng lên đáng kể.2 cho thấy được sản lượng khai thác khí của Việt Nam tăng vọt so với những năm trước 2005. Tuy nhiên, trữ lượng khí ngọt tại các bể Nam Côn Sơn và bể Cửu Long có nguy cơ cạn kiệt, việc đánh giá chất lượng khí tại bể Malay – Thổ Chu và bể Sông Hồng và có phương án khai thác là rất cần thiết. Các mỏ khí có hàm lượng CO2 cao phân bố rải rác ở bể trầm tích Sông Hồng, Malay-Thổ Chu phân bố ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam khu vực thềm lục địa Việt Nam hiện chưa được khai thác.
Mặc dù nước ta đã có những khảo sát nghiên cứu đánh giá tiềm năng, trữ lượng, chất lượng các mỏ khí thiên nhiên nhưng còn nhiều hạn chế do đặc điểm địa chất phức tạp, chi phí tốn kém. Tại khu vực bể Sông Hồng, trữ lượng khí xác minh tại chỗ là 1523,8 tỷ m3 khí, nhưng thành phần CO2 biến thiên và các mỏ khí không tập trung đã đặt ra rất nhiều thách thức cho việc khai thác chế biến. Dựa theo vị trí phân bố có thể chia bể Sông Hồng thành 3 khu vực các mỏ như sau: - Nhóm mỏ khí phía Bắc bể Sông Hồng nằm trên vĩ tuyến 19030’, bao gồm các mỏ khí Tiền Hải C, Hồng Long, D14, các mỏ từ lô 102 đến 110 và các mỏ nằm khu vực đồng bằng Sông Hồng [2]. Các mỏ khí ở đây có hàm lượng CO2 rất thấp hoặc không chứa CO2.
Chính vì vậy khí được khai thác tại các mỏ khí này được sử dụng ngay mà không qua xử lý. - Nhóm mỏ phía Nam nằm giữa hai vĩ tuyến 17000’ – 18000’ cách bờ biển Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế 30 - 130km, gồm các mỏ có trữ lượng trung bình, có hàm lượng CO2 thay đổi từ 0-70%. Như giếng khoan 112-HO-1X:DST≠, mẫu khí lấy được có hàm lượng CO2 là 57%, CH4 là 38%, giếng khoan có số hiệu 112-BT-1X:DST≠1 mẫu khí lấy được có thành phần CO2 là 27%. - Nhóm mỏ nằm dưới vĩ tuyến 17000’ cách bờ biển Quảng Nam-Quảng Ngãi- Đà Nẵng 70-120km, gồm các mỏ khí có trữ lượng lớn, hàm lượng CO2 cao.
Có thể kể đến như Cá Voi Xanh có hàm lượng CO2 là 75-80% (trữ lượng khoảng 1,38Tcf), mỏ 115A có hàm lượng CO2 từ 78-93% (trữ lượng khoảng 2,0Tcf). Trang 8 Luận văn thạc sĩ HVCH: Đỗ Thị Hồng Hạnh Một số mỏ nằm tại những khu vực nhạy cảm chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện chúng ta chưa có những kết quả khảo sát khu vực này ngoại trừ những thông tin khảo sát được đưa ra từ phía Trung Quốc. Khu vực bể Malay-Thổ Chu, đây là khu vực chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia, chất lượng khí tại bể này có hàm lượng CO2 ở mức trung bình khoảng 20%. Hiện nước ta đang xem xét một số mỏ khí chứ hàm lượng CO2 cao có trữ lượng lớn, như Bảng 1.5 Các mỏ khí tự nhiên có hàm lượng CO2 vừa và cao đang được xem xét trong việc khai thác và chế biến trong tương lai [2] Ngựa Vằn / Sao Bạch Trĩ / Bồ Nông/ Cá Voi Xanh 115A La / Gấu Trúc Hải Yến Sáo Đá Lô 118 115 111 112 113 17,5-17,7 oBắc 17,2-17,5 17,0-17,5 15,84 oBắc 16,78 oBắc o Bắc o Bắc Vị trí địa lý 107,86-108,26 109,43 oĐông 109,1 oĐông 107,37 108,42 o Đông o Đông o Đông Khoảng cách 75km 100km 100/75/85 km 25/40km 85/70km đến bờ Bờ biển Bờ biển Điểm bờ gần Bờ biển Bờ biển Đã Bờ biển Thừa Thừa Thiên Thừa Thiên nhất Quảng Ngãi Nẵng Thiên Huế Huế Huế Trữ lượng 489,6 820,7 54,7 95,1 52,4 (tỷ m3) Nồng độ CO2 75-80 78-93 5-39 27-40 40-48 Nhìn chung, các mỏ khí thiên nhiên được phát hiện tại thềm lục địa của Việt nam chứa hàm lượng CO2 thấp (hoặc không chứa CO2) chiếm tỷ lệ cao và đang được khai thác hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế cao.