Chương 1 TỔNG QUAN 1. Hướng tiếp cận vấn đề Sản xuất vật liệu kim loại hợp kim là một trong những ngành được ưu tiên phát triển như một ngành mũi nhọn theo chủ trương phát triển Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa của nhà nước trong Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2011 ÷ 2020. Tuy nhiên, việc sản xuất này đòi hỏi phải sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch như than, dầu DO, FO vốn làm phát sinh khí thải ô nhiễm như CO, SO2, NOx, VOCs… đặc biệt là CO - một loại khí rất độc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2013, các nhóm ngành sản xuất và khí thải phát sinh được liệt kê trong bảng 1.
Nhóm ngành sản xuất và khí thải phát sinh điển hình TT Nhóm ngành sản xuất Khí thải 1 Các ngành có lò hơi, lò sấy, máy phát Bụi, SO2, CO, CO2, NO2, VOCs, muội điện đốt nhiên liệu nhằm cung cấp hơi, khói điện, nhiệt 2 Nhóm ngành sản xuất gang thép Bụi, gỉ sắt chứa các ôxít kim loại (FeO, MnO, Al2O3, SiO2, CaO, MgO); khí thải chứa CO, CO2, SOx. 3 Nhóm ngành sản xuất cơ khí, luyện kim Bụi, hơi kim loại nặng, CN-, HCl, SiO2, CO, CO2 4 Nhóm ngành sản xuất các sản phẩm từ Bụi kim loại đặc thù, hơi hóa chất, hơi kim loại dung môi hữu cơ, SO2, NO2 5 Nhóm ngành khai thai sản xuất than và Bụi, SO2, NOx, CO, CO2 khoáng sản Nguồn: Báo cáo môi trường Quốc gia 2013 – Môi trường không khí Ở Việt Nam, đa phần các lò công nghiệp nói chung và lò nung gia công nhiệt vật liệu kim loại nói riêng đều sử dụng nhiên liệu dầu [1].1 cho thấy phân bố các loại nhiên liệu tiêu thụ tại Việt Nam theo khảo sát của tổ chức EIA, Hoa kỳ. Trong năm 2010, Việt Nam tiêu thụ khoảng 320.000 thùng dầu thô/ngày và EIA dự báo trong năm 2015 lượng tiêu thụ này sẽ tăng đến 450.000 thùng/ngày như trên hình 1. LÊ NGỌC LONG 1 LUẬN VĂN THẠC SỸ CHẾ TẠO VL XÚC TÁC HH SPINEL CuCr2O4 VÀ Pd XL CO TRONG KHÍ THẢI LÒ NUNG Thủy điện Dầu thô 10% 24% Than đá 20% Khí thiên nhiên 11% Năng lượng sinh khối 35% Hình 1.
Tổng nhiên liệu tiêu thụ của Việt Nam năm 2010 Trong những năm gần đây, ngành thép đã phát triển khá nhanh với nhiều doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn. Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, năm 2000, toàn ngành có 76 doanh nghiệp, đến năm 2009 số doanh nghiệp tăng 6 lần, lên 462 doanh nghiệp. Với đặc trưng là tiêu tốn nhiều năng lượng (than, dầu, điện), chiếm khoảng 6% tổng tiêu thụ năng lượng của các ngành công nghiệp, ngành thép hiện được đánh giá là một trong những ngành đứng đầu về phát thải khí CO, CO2. Đây là một trong những thách thức đối với công tác quản lý môi trường không khí [2].
Sản lượng sản xuất và tiêu thụ dầu thô của Việt Nam qua các năm, ngàn thùng/ngày LÊ NGỌC LONG 2 LUẬN VĂN THẠC SỸ CHẾ TẠO VL XÚC TÁC HH SPINEL CuCr2O4 VÀ Pd XL CO TRONG KHÍ THẢI LÒ NUNG Riêng TP.000 cơ sở sản xuất sử dụng nhiên liệu dầu với tổng khối lượng gần 1,8 triệu tấn (44% tổng lượng nhiên liệu sử dụng). Nhu cầu nhiên liệu dầu sử dụng trong công nghiệp ở TP. HCM được thể hiện trong bảng 1. Nhu cầu nhiên liệu dầu sử dụng trong công nghiệp ở TP.
HCM [1] Năm Nhu cầu tiêu thụ, tấn Năm Nhu cầu tiêu thụ, tấn 1995 1.000 Theo dự báo nhu cầu sử dụng các sản phẩm thép đến năm 2025, cả nước sẽ tiêu thụ khoảng 37 triệu tấn, kèm theo đó là một lượng lớn các khí thải phát sinh như trong bảng 1. Ước tính các chất phát thải vào môi trường theo sản lượng quy hoạch phát triển ngành thép đến 2025, tấn/năm TT Các chất phát thải 2010 2015 2020 2025 1 SO2 3.912 4 Bụi tổng hợp 573 1.632 Nguồn: Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp, Bộ Công thương, 2009 Quá trình phát sinh khí thải ô nhiễm CO từ quy trình gia công nhiệt vật liệu bằng các lò nung có thể mô tả như sơ đồ hình 1. Đối với quá trình đốt cháy nhiên liệu trong các lò nung gia công nhiệt kim loại, các sản phẩm cháy bao gồm ba nhóm chính như trên hình 1. Theo quan điểm về sự cháy nhiên liệu, nhóm thành phần khí CO2 và H2O là sản phẩm cháy mong muốn cho thấy quá trình đốt cháy nhiên liệu là hoàn toàn với nhiệt lượng tỏa ra để cung cấp cho vật nung là lớn nhất.
Còn nhóm khí thải có tính acid như SO2, HCl… phát sinh do bản chất nhiên liệu chứa các thành phần lưu huỳnh (S), Clo (Cl) nên khi tham gia quá trình cháy tất yếu sẽ sinh ra trong khí thải và tùy thuộc hàm lượng nhiều hay ít mà nồng độ của chúng sẽ cao hay thấp. Đối với dầu DO, hàm lượng S trong thành phần chỉ thấp hơn 0,05% (TCVN 5689: 2005, phương pháp thử theo TCVN 6701: 2000) thì nồng độ SO2 trong LÊ NGỌC LONG 3 LUẬN VĂN THẠC SỸ CHẾ TẠO VL XÚC TÁC HH SPINEL CuCr2O4 VÀ Pd XL CO TRONG KHÍ THẢI LÒ NUNG khí thải là rất thấp, dưới 1.Nm-3 (Cột A) theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ - QCVN 19:2009/BTNMT. Còn đối với nhóm khí thải NOx, CO, HC, bồ hóng là các thành phần sinh ra do công nghệ đốt. Nếu áp dụng công nghệ đốt phù hợp, kiểm soát chặt chẽ các thông số công nghệ đốt như nhiệt độ (T), hệ số cấp khí (α), áp suất phun (p), hệ số rối (Re), thời gian lưu (τ), thì lượng khí này sẽ sinh ra ít còn ngược lại thì nồng độ trong khí thải sẽ rất cao.
Bụi Khí thải Tiếng ồn Than Dầu DO, FO Quá trình sản vật liệu kim loại Gas Phôi thép bằng lò đốt nhiên liệu Ôxy Nước Xỉ Nước thải Hình 1. Nguyên nhiên liệu sử dụng và các dạng phát thải môi trường của ngành sản xuất vật liệu kim loại [3] Các thành phần ô nhiễm khác nhau sẽ có các phương pháp xử lý phù hợp. Đối với việc xử lý bụi có thể áp dụng các phương pháp như lắng trọng lực bằng cách dùng các thiết bị lắng/lọc bụi xiclon, túi lọc… hay như đối với khí thải có tính acid (SO2, HCl…) có thể áp dụng các phương pháp hấp thụ trong dung dịch kiềm bằng cách dùng các thiết bị như tháp hấp thụ, tháp rửa khí để xử lý. CO2, H2O Nhiên liệu C, H, O… Quá trình NOx, CO, HC, bồ hóng cháy Không khí SO2, HCl, bụi.
Mô hình sự cháy nhiên liệu và phát sinh khí thải Khí thải CO phát tán vào môi trường do quá trình đốt không hoàn toàn các loại nhiên liệu hữu cơ như than, dầu, gỗ củi. Thời gian lưu trong khí quyển có thể dao động từ 1 tháng đến 2,7 năm [2]. Quá trình đốt cháy không hoàn toàn nhiên liệu này LÊ NGỌC LONG 4 LUẬN VĂN THẠC SỸ CHẾ TẠO VL XÚC TÁC HH SPINEL CuCr2O4 VÀ Pd XL CO TRONG KHÍ THẢI LÒ NUNG ở nhiệt độ trên 800 ÷ 1000 °C trong các lò nung gia nhiệt kim loại sẽ tạo thành CO theo phản ứng (1.1) với tốc độ hình thành theo Dryer như phương trình (1.2): C + ½O2 → CO, ΔHo = - 223,4 kJ.2) dt T Đặc điểm, tính chất khói thải của một số lò nung gia công nhiệt vật liệu kim loại được trình bày trong bảng 1. Qua đó cho thấy rằng đối với các lò nung kim loại sử dụng nhiên liệu dầu DO với công nghệ và chế độ đốt được áp dụng hiện tại thì hầu hết đều có nồng độ khí CO vượt ngưỡng giá trị quy định (1.Nm-3) theo QCVN 19:2009/BTNMT đối với cả hai cột A và B.
Đồng thời có rất ít các lò nung được trang bị các hệ thống xử lý khí thải phù hợp. Điều này cho thấy tính cấp thiết của việc xử lý ô nhiễm không khí nói chung và ô nhiễm từ các lò nung trong ngành vật liệu kim loại nói riêng và đặc biệt là xử lý khí CO nhằm đạt tiêu chuẩn xả thải ra môi trường. Đặc điểm khói thải của một số lò nung vật liệu dùng dầu DO [4] Nhiệt độ khói, Lưu lượng khói, Nồng độ CO, TT Lò nung °C Nm3.Nm-3 1 Lò buồng ủ thép, Công ty 200 ÷ 550 8.420 TNHH cơ khí Duyên Hải, Long Thành, Đồng Nai 2 Lò nấu nhôm, Cty Nguyệt 400 ÷ 700 8.850 Minh – Long An 3 Lò ủ nhôm dập, Cty Nhôm 300 ÷ 400 5.250 Kim Cương, TP. HCM 4 Lò nung ủ phôi thép, Công 600 ÷ 700 8.850 ty thép Đồng Tiến, Tân Thành, Bà Rịa – Vũng Tàu - Nm3: mét khối khí thải ở nhiệt độ 25 °C và áp suất tuyệt đối 760 mm thủy ngân.
Để hạn chế sự phát thải khí ô nhiễm nói chung và khí CO nói riêng ra môi trường, có nhiều biện pháp xử lý khác nhau được phân làm hai dạng gồm: Xử lý tại nguồn: cải tiến, hoàn thiện thiết bị đốt nhiên liệu và quy trình công nghệ theo hướng “công nghệ sạch” có ít hay không có chất thải bằng cách chuyển đổi LÊ NGỌC LONG 5 LUẬN VĂN THẠC SỸ CHẾ TẠO VL XÚC TÁC HH SPINEL CuCr2O4 VÀ Pd XL CO TRONG KHÍ THẢI LÒ NUNG nhiên liệu, áp dụng quy trình mới… đây là biện pháp xử lý có tính tích cực trong việc khiểm soát ô nhiễm đã và đang được áp dụng tương đối thành công trong các quy trình xử lý khí thải nói chung và ngành Vật liệu nói riêng. Xử lý sau nguồn: áp dụng các biện pháp kỹ thuật để xử lý, không chế nồng đồng khí thải ô nhiễm trước khi phát tán ra môi trường. Đây là phương pháp tuy bị động nhưng rất cần thiết để xử lý triệt để ô nhiễm còn sót lại sau quá trình xử lý tại nguồn. Việc sử dụng vật liệu xúc tác trong khâu xử lý khí thải các quá trình công nghiệp, hóa chất đã được áp dụng nhiều và cũng đã đạt được những thành công nhất định.
Tuy nhiên, không giống như các quá trình xử lý khí CO từ các nguồn thải khác như khí thải động cơ Diesel vốn có nhiệt độ thấp (dưới 200 °C) hay ở thậm chí ở nhiệt độ phòng (các quá trình tổng hợp hóa học), đòi hỏi xúc tác phải có hoạt tính trong môi trường nhiệt độ thấp này.