CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ CO2 1. Khái niệm, tính chất hóa lý a.
Khái niệm: Cacbon điôxít hay điôxít cacbon (các tên gọi khác than khí, anhiđrít cacbonic, khí cacbonic) là một hợp chất ở điều kiện bình thường có dạng khí trong khí quyển Trái Đất, bao gồm một nguyên tử cacbon và hai nguyên tử ôxy. Là một hợp chất hóa học được biết đến rộng rãi, nó thường xuyên được gọi theo công thức hóa học là CO2. Ở dạng rắn, nó được gọi là băng khô. Các thuộc tính hóa lý: Cacbon đioxit là một khí không màu mà khi hít thở phải ở nồng độ cao (nguy hiểm do nó gắn liền với rủi ro ngạt thở) tạo ra vị chua trong miệng và cảm giác nhói ở mũi và cổ họng.
Các hiệu ứng này là do khí hòa tan trong màng nhầy và nước bọt, tạo ra dung dịch yếu của axit cacbonic. Tỷ trọng riêng của nó ở 25 °C là 1,98 kg/m3, nặng hơn khoảng 1,5 lần không khí. Phân tử cacbon đioxit (O = C = O) chứa hai liên kết đôi và có hình dạng tuyến tính. Nó không có lưỡng cực điện.
Do nó là hợp chất đã bị ôxi hóa hoàn toàn nên về mặt hóa học nó không hoạt động mạnh lắm và cụ thể là không cháy. Ở nhiệt độ dưới -78 °C, cacbon đioxit ngưng tụ lại thành các tinh thể màu trắng gọi là băng khô. Cacbon đioxit lỏng chỉ được tạo ra dưới áp suất trên 5,1 bar; ở điều kiện áp suất khí quyển, nó chuyển trực tiếp từ các pha khí sang rắn hay ngược lại theo một quá trình gọi là thăng hoa. Nước sẽ hấp thụ một lượng nhất định cacbon đioxit, và nhiều hơn lượng này khi khí bị nén.
Khoảng 1% cacbon đioxit hòa tan chuyển hóa thành axit cacbonic. Axit cacbonic phân ly một phần thành các ion bicacbonat (HCO 3−) và cacbonat (CO32−). Khi một nguồn lửa được đưa vào ống thử có chứa cacbon đioxit thì ngọn lửa sẽ tắt ngay lập tức do cacbon đioxit thông thường không duy trì sự cháy, Luan van 4 tuy nhiên nếu là sự cháy của các kim loại mang tính khử cao như Mg, Zn thì cacbon bị khử, tạo ra oxit kim loại và muội than. Để xác nhận khí này là cacbon đioxit thì khí được dẫn qua dung dịch canxi hydroxit (Ca(OH)2) trong.
Dung dịch canxi hydroxit sẽ chuyển thành màu trắng do sự tạo thành canxi cacbonat. Ứng dụng Cacbon đioxit lỏng và rắn là chất làm lạnh quan trọng, đặc biệt là trong công nghiệp thực phẩm, trong đó chúng tham gia vào quá trình lưu trữ và vận chuyển các loại kem và các thực phẩm đông lạnh [1]. Cacbon đioxit được sử dụng để sản xuất nước giải khát cacbonat hóa và nước soda. Theo truyền thống, quá trình cacbonat hóa trong bia và vang nổ có được do lên men tự nhiên, nhưng một số nhà sản xuất cacbonat hóa các đồ uống này một cách nhân tạo [2].
Bột nở sử dụng trong các loại bánh nướng tạo ra khí cacbonic làm cho khối bột bị phình to ra, do tạo ra các lỗ xốp chứa bọt khí. Men bánh mì tạo ra khí cacbonic bằng sự lên men trong khối bột, trong khi các loại bột nở hóa học giải phóng ra khí cacbonic khi bị nung nóng hoặc bị tác dụng với các axit. Cacbon đioxit dập tắt lửa, và một số bình cứu hỏa, đặc biệt là các loại được thiết kể để dập cháy do điện, có chứa cacbon điôxít lỏng bị nén. Cacbon điôxít cũng được sử dụng như là môi trường khí cho công nghệ hàn, mặc dù trong hồ quang thì nó phản ứng với phần lớn các kim loại.
Nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp ô tô mặc dù có chứng cứ đáng kể cho thấy khi hàn trong môi trường này thì mối hàn giòn hơn so với các mối hàn trong môi trường các khí trơ, và các mối hàn này theo thời gian sẽ giảm phẩm cấp do sự tạo thành của axít cacbonic. Nó được sử dụng làm việc này chủ yếu là do nó có giá thành thấp hơn nhiều so với các khí trơ như agon hay heli. Cacbon đioxit lỏng là một dung môi tốt cho nhiều hợp chất hữu cơ, và được dùng để loại bỏ cafein từ cà phê. Nó cũng bắt đầu nhận được sự chú ý của công nghiệp dược phẩm và một số ngành công nghiệp chế biến hóa chất khác do nó là chất thay thế ít độc hơn cho các dung môi truyền thống như các clorua hữu cơ.
Luan van 5 Thực vật cần có cacbon đioxit để thực hiện việc quang hợp, và các nhà kính có thể được làm giàu bầu khí quyển của chúng bằng việc bổ sung CO2 nhằm kích thích sự tăng trưởng của thực vật [3] và tảo [4]. Nồng độ cao của cacbon đioxit trong khí quyển tiêu diệt có hiệu quả nhiều loại sâu hại. Các nhà kính được nâng nồng độ CO2 tới 10. Trong y học, tới 5% cacbon đioxit được thêm vào oxy nguyên chất để trợ thở sau khi ngừng thở và để ổn định cân bằng O2/CO2 trong máu.
Cacbon đioxit cũng hay được bơm vào hay gần với các giếng dầu [6]. Nó có tác dụng như là tác nhân nén và khi hòa tan trong dầu thô dưới lòng đất thì nó làm giảm đáng kể độ nhớt của dầu thô, tạo điều kiện để dầu chảy nhanh hơn trong lòng đất vào các giếng hút. Trong các mỏ dầu đã hoàn thiện thì một hệ thống ống đồ sộ được sử dụng để chuyển cacbon đioxit tới các điểm bơm. CÁC NGUỒN PHÁT THẢI KHÍ CO2 VÀ TÍCH LŨY CO2 TRONG KHÍ QUYỂN Cacbon điôxít phát ra từ hai nguồn chính là từ tự nhiên và nhân tạo.
Đối với nguồn tự nhiên, cacbon điôxít có thể thoát ra từ các núi lửa, hoạt động hô hấp của các sinh vật sống hiếu khí, một số vi sinh vật sản xuất từ sự lên men và sự hô hấp của tế bào, các loài thực vật hấp thải điôxít cacbon trong quá trình hô hấp. Đối với nguồn nhân tạo, cacbon điôxít được tạo và thoát ra từ các quá trình công nghiệp đốt nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, khí hóa lỏng, công nghiệp xi măng và nông nghiệp [7]. Nguồn cacbon điôxít tự nhiên được tạo ra nhằm duy trì chu trình cân bằng cacbon trong tự nhiên. Tuy nhiên, do sự phát triển công nghiệp sau cách mạng công nghiệp, lượng nhiên liệu hóa thạch đã và đang được khai thác sử dụng cạn kiệt, đồng thời thải ra một lượng lớn cacbon điôxít tích lũy trong khí quyển làm mất cân bằng tự nhiên của cabon và gây ra hiệu ứng nhà kính.
Số liệu mới nhất công bố cho thấy nồng độ CO2 trung bình trong khí quyển đo được cuối năm 2020 là 415 ppm (nồng độ theo khối thể tích) tương đương với 630 ppm (nồng độ theo khối lượng). Nồng độ này dao động nhẹ theo Luan van 6 mùa trong năm, có xu hướng giảm xuống trong điều kiện thời tiết mùa xuân và mùa hè do hai mùa này thực vật phát triển mạnh nên hấp thụ một lượng lớn CO2. Ngược lại, trong mùa thu và mùa đông, nồng độ CO2 trong khí quyển có xu hướng tăng do thực vật rụng lá, chết hoặc phân hủy. Hoạt động phát triển của con người thải ra hơn 30 tỷ tấn CO2/năm (tương đương tiêu thụ 9 tỷ tấn nhiên liệu hóa thạch), trong khi núi lửa chỉ làm thoát ra có 0,2 – 0,3 tỷ tấn CO2.
Hoạt động của con người làm tăng nồng độ CO2 cao hơn mức CO2 đo được trong khí quyển từ hàng trăm nghìn năm trước và hơn một nửa lượng CO 2 trong khí quyển hiện nay không được hấp thụ bởi thực vật và biển. Như vậy, nếu sự phát triển của xã hội loài người vẫn thải ra CO2, thì lượng thải thêm này tích lũy vào khí quyển và tăng sự nghiệm trọng của hiệu ứng nhà kính. NHỮNG HỆ QUẢ CỦA SỰ PHÁT THẢI CO2 Bên cạnh những ứng dụng trên thì tác hại của khí CO 2 mang lại cho môi trường sống của chúng ta cũng rất lớn. Việc gia tăng lượng CO 2 trong khí quyển làm trầm trọng thêm hiệu ứng nhà kính và vì thế làm tăng sự ấm toàn cầu.
Một số hệ quả mà loài người đã và đang sẽ phải đối mặt là hạn hán, lũ lụt, băng tan và nước biển dâng, bệnh dịch, nhiều hệ sinh thái bị biến mất ở nhiều khu vực địa lý của thế giới. Đây là một vấn đề nhức nhối hiện nay đe dọa trực tiếp đến sự sống của con người. CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CO2 1. Phương pháp hóa lý Các phương pháp hóa lý được nghiên cứu và ứng dụng gồm hấp phụ, hấp thụ, phản ứng hóa học nhằm thu lại hoặc chuyển hóa CO2 thành chất ít hoặc không gây hiệu ứng nhà kính.
Hấp thụ CO2 có thể dụng các dung môi của nhóm amin (ví dụ: ethanolain,.) [8], ammoniac [9], K2CO3 [10] hoặc là nước. Đối với dung dịch của nhóm amin, hệ số hấp thụ cao dưới áp suất cao nhưng hiệu suất thu hồi CO2 phụ thuộc vào khả năng giải hấp thụ của dung môi và nhiệt độ (thường nghiệt độ cao). Ngoài ra, các dung môi amin thường có tính ăn mòn nên yêu cầu trang thiết bị đầu tư tốn kém. Amoniac cũng khá hiệu quả, có khả năng giảm nồng độ CO2 từ 34% xuống còn 0,015% nhưng có hạn chế là khi sử Luan van 7 dụng phương pháp này rất dễ dẫn đến việc thải khí NH3 ra ngoài môi trường- một trong những loại khí gây hại khá lớn đối với sức khỏe.
Dung dịch K 2CO3 có đặc tính ôn hòa trong hấp thụ CO2, nên phải dùng nồng độ K2CO3 cao từ 30- 40% [10]. Xử lí khí thải CO2 bằng phương pháp hấp phụ sử dụng nước, đây là phương pháp đơn giản, những hạn chế trong việc hòa tan CO2 trong nước, cần lượng nước lớn, bình chứa có dung tích cao và áp suất lớn. Một số nghiên cứu dùng vật liệu xốp hấp phụ CO2, vật liệu chứng tỏ khả năng hấp phụ CO2 cao, nhưng vấn đề lớn vẫn là giải hấp phụ CO2 ra để thu hồi [11]. Phương pháp màng Nguyên lý của màng lọc khí rất đơn giản: nó bao gồm một màng mỏng và xốp hoạt động như một bộ lọc các hỗn hợp khí thải.
Nó chỉ cho phép CO2 đi qua nhờ vào sự chênh lệch áp suất giữa 2 bên màng nhưng ngăn cản oxy, nitơ và các khí khác đi theo [12]. Không giống như các phương pháp hóa học hiện có để thu giữ CO2 từ các nhà máy công nghiệp, màng lọc khí dễ lắp đặt và có thể hoạt động không cần giám sát trong thời gian dài mà không cần thêm chi phí năng lượng bổ sung. Các thiết bị màng lọc khí cần có áp lực lớn ở một bên và thường là chân không ở một bên kia để duy trì dòng khí lưu thông tự do.