MỞ ĐẦU 1. Tín ấp t ết ủ đề tà Kết quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục đích nhất định. Xét trên phƣơng diện lý luận và thực tiễn, phạm trù kết quả kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ƣu nhất, đƣa ra phƣơng pháp đúng đắn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa. Đo lƣờng kết quả kinh doanh sẽ cung cấp cho mọi đối tƣợng quan tâm để có cơ sở khoa học đƣa ra các quyết định hữu ích cho các đối tƣợng khác nhau trong doanh nghiệp.
Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp việc đo lƣờng, đánh giá, phân tích kết quả sử dụng tài sản, nguồn vốn, chi phí, từ đó phát huy những mặt tích cực và đƣa ra các biện pháp nhằm nâng cao kết quả sử dụng các yếu tố sản xuất để khai thác tiềm năng sử dụng của từng yếu tố góp phần nâng cao kết quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.Với cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp biết đƣợc thực chất kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ thế nào, chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp trong tƣơng lai, từ đó họ yên tâm công tác, tâm huyết với nghề nghiệp. Đối với Việt Nam, phát triển sản xuất nông nghiệp có thể coi là đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội. Thực tiễn cho thấy nông nghiệp là hậu phƣơng, nền tảng vững chắc giúp nền kinh tế thoát khỏi ảnh hƣởng khủng khoảng của kinh tế toàn cầu (2008) thông qua việc tạo ra nhiều công ăn việc làm, thu nhập cho số đông dân cƣ, đặc biệt quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và hợp tác đa phƣơng. Trong khi Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp với 70% dân số sống ở nông thôn, trong đó gần 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp thì phát triển doanh nghiệp trong lĩnh vực này về số lƣợng cũng nhƣ quy mô hoạt động và tăng cƣờng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ có ý nghĩa quan trọng trong Luan van 2 việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động ở các vùng nông thôn, miền núi và miền biển, góp phần vào việc xoá đói, giảm nghèo cho đất nƣớc.Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, tính đến 31/12/2015, nƣớc ta có 13.749 doanh nghiệp nông sản đang hoạt động sản xuất kinh doanh (chiếm trên 3,67% tổng số doanh nghiệp của tất cả các ngành kinh tế của cả nƣớc).
Những doanh nghiệp ấy đã giúp cho trên 400.000 lao động có việc làm, chiếm trên 4.2% tổng số lao động trong các doanh nghiệp của tất cả các ngành kinh tế và bằng 1,68% tổng số lực lƣợng lao động trong ngành nông nghiệp. Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ kéo theo những khó khăn và thách thức ngày càng lớn đối với loại hình doanh nghiệp này. Xét theo bình diện chung của các nƣớc đầu tƣ vốn tại các doanh nghiệp kinh doanh nông sản tại Đắk Nông thì quy mô sản xuất còn ở mức nhỏ bé so với nhu cầu thực tế và so với doanh nghiệp các ngành kinh tế khác. Do đó các doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh và thị trƣờng.
Nhiều doanh nghiệp vẫn còn loay hoay với nguồn vốn vay của các ngân hàng nhất là các doanh nghiệp nhỏ. Chất lƣợng sản phẩm nông sản còn thấp so với tiêu chuẩn, khối lƣợng sản phẩm sản xuất ra chƣa nhiều, thậm chí còn manh mún. Tính đến nay, danh mục sản phẩm nông sản của Đắk Nông có thƣơng hiệu uy tín trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế còn rất ít. Phần lớn các doanh nghiệp nông sản có trình độ khoa học, công nghệ lạc hậu, tay nghề công nhân thấp do vậy chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ thấp, khả năng cạnh tranh yếu, chi phí giá thành cao, đầu tƣ đổi mới kỹ thuật và công nghệ còn thấp so với yêu cầu phát triển trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Bên cạnh đó việc thiếu hụt về công nghệ thông tin và khả năng ngoại ngữ cũng là nguyên nhân quan trọng thể hiện doanh nghiệp nông sản chƣa thật sự có đủ sức mạnh trƣớc yêu cầu cấp bách của hội nhập. Các doanh Luan van 3 nghiệp nông sản cũng đang gặp khó khăn khác nhƣ chính sách hiện hành về đất đai còn nhiều thủ tục rƣờm rà; giá thuê đất cao nên khó tìm đƣợc mặt bằng sản xuất, kinh doanh phù hợp. Từ những phân tích trên việc cấp bách là phải đánh giá đƣợc thực trạng kinh doanh, đƣa ra đƣợc nguyên nhân căn cốt chủ yếu có khoa học, thực tiễn đối với những hạn chế khó khăn của doanh nghiệp, cùng doanh nghiệp đƣa ra các giải pháp kết quả nhằm vƣợt qua khó khăn để ổn định phát triển bền vững, cạnh tranh sòng phẳng trên sân nhà và thị trƣờng quốc tế. Với lý do trên em đã chọn đề tài "Đo lƣờng ết quả oạt động n o n : Tìn uống tạ o n ng ệp n o n nông sản ở tỉn Đắ Nông" làm luận văn tốt nghiệp.
Tổng qu n á ông trìn ng ên ứu Kapopoulos & Lazaretou (2007), đo lƣờng kết quả kinh doanh dựa trên các chỉ tiêu kế toán đƣợc coi là chỉ số kết quả đo lƣờng lợi nhuận của các doanh nghiệp khi so sánh với lợi nhuận với rủi ro điều chỉnh chi phí vốn bình quân gia quyền. Việc hạch toán dựa trên các chỉ số đo lƣờng lợi nhuận của các công ty về ngắn hạn trong những năm qua nhƣ (ROA), (ROE), (ROS), (PM), (ROI), (OCF), (EPS), (OP ), (GRO), (ROCE), (ETA), (CTA), (STS) và một số chỉ tiêu liên quan khác. Tỷ lệ lợi nhuận kế toán, giới hạn bởi các tiêu chuẩn và vì thế chúng bị ảnh hƣởng bởi các thông lệ kế toán nhƣ các phƣơng pháp khác nhau đƣợc sử dụng để đánh giá các tài sản hữu hình và vô hình. ROA là chỉ tiêu kế toán đo lƣờng đánh giá sự điều hành và hoạt động tài chính của công ty (Klapper & Love, 2002).
ROA càng cao thì kết quả là sử dụng các tài sản càng tăng và có lợi cho các cổ đông (Haniffa & Huduib, 2006). Tỷ lệ này cao cũng phản ánh kết quả sử dụng của công ty tài sản của mình trong việc phục vụ lợi ích kinh tế của các cổ đông (Ibrahim & AbdulSamad, 2011). Theo Hutchinson và Gul (2004) và Mashayekhi và Bazazb (2008), đo lƣờng kết quả dựa trên các chỉ tiêu kế toán sẽ trình bày các Luan van 4 kết quả hoạt động quản lý và đƣợc ƣa thích hơn các biện pháp đo lƣờng dựa vào thị trƣờng khi đánh giá mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và kết quả hoạt động của công ty. Kết quả là một công ty có kết quả ROA tích cực, thì kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ trƣớc cao (Nuryanah và Islam, 2011).
Trái lại, nếu ROA thấp không đúng theo kế hoạch, đòi hỏi cần phải sửa đổi kế hoạch để tăng cƣờng hiệu suất ngắn hạn. Phƣơng pháp đo lƣờng kết quả kinh doanh bằng các chỉ tiêu kế toán đƣợc ƣa chuộng bao gồm: ROA- tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (chiếm 46%); ROE- tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (27%), tỷ suất lợi nhuận biên (8%). ROA là chỉ tiêu đƣợc quan tâm nhất trong báo cáo tài chính hằng năm của doanh nghiệp. Đo lƣờng kết quà kinh doanh dựa trên thị trƣờng đƣợc phân loại nhƣ Tobin’s Q, tỷ lệ giá trị thị trƣờng/tài sản (MVA), giá trị thị trƣờng/giá trị sổ sách (MTBV), tỷ suất lợi nhuận doanh thu (RET), lợi nhuận cổ phần (DY).
Các chỉ tiêu đo lƣờng dựa trên thị trƣờng đƣợc đặc trƣng bởi khía cạnh về tƣơng lai và phản ánh của sự mong đợi của các cổ đông liên quan đến kết quả hoạt động trong tƣơng lai của công ty dựa trên trên kết quả hoạt động của các kỳ trƣớc hoặc hiện tại (Wahla, ShahSyed & Hussain, 2012; Shan & McIver Ron, 2011; Ganguli & Agrawal, 2009). Tobin Q đề cập đến là phƣơng pháp đo lƣờng truyên thống đo lƣờng kết quả lâu dài của doanh nghiệp (Bozec, Dia & Bozec, 2010). Việc sử dụng giá trị thị trƣờng của vốn chủ sở hữu có thể trình bày những cơ hội tăng trƣởng trong tƣơng lai của công ty mà có thể xuất phát từ các yếu tố ngoại sinh để quyết định quản lý (Shan & McIver, 2011; Demsetz & Villalonga, 2001). Ngoài ra, một tỷ lệ Q cao nghĩa là giá trị thị trƣờng cao hơn giá trị sổ sách (Kapopoulos & Lazaretou, 2007).
Hơn nữa, kỳ vọng của thị trƣờng dựa trên hiệu suất cho công ty có thể dẫn đến động lực quản lý để thay đổi cổ phần của họ trên cơ sở của những kỳ vọng của họ về các hoạt động tƣơng lai của công ty (Sánchez-Ballesta & García-Meca, 2007). Luan van 5 Kết quả là, khi thực hiện dựa trên thị trƣờng của công ty là cao hơn so với kết quả của Tobin Q, điều này chỉ ra rằng công ty đã thành công trong việc đạt đƣợc hiệu suất kế hoạch cao (Nuryanah & Islam, 2011), nhƣng nếu Tobin Q thấp hơn giá trị số sách, công ty cần phải xem xét lại kế hoạch của mình để nâng cao hiệu suất ngắn hạn của nó. Trong phƣơng pháp đo lƣờng này Tobin’s q chiếm 78%, giá trị thị trƣờng trên giá trị sổ sách (MTBV) chiếm 7%, tỷ suất lợi nhuận trên cổ phiếu (RET) chiếm 4%. Nhƣ vậy có thể thấy Tobin’q là chỉ tiêu chủ yếu để đo lƣờng kết quả kinh doanh.
Một số chỉ tiêu đo lƣờng khác về kết quả kinh doanh thuộc về Marketing và nguồn lực của doanh nghiệp năng suất của mỗi nhân viên, thị phần doanh thu, thị phần khách hàng, chi phí dịch vụ đƣợc cung cấp và chi phí khách hàng, chất lƣợng dịch vụ; những yếu tố này đã đƣợc thực nghiệm bởi Ii, Kankpang và Okonkwo (2012). 3 Mụ t êu ng ên ứu 3. Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu phƣơng pháp đo lƣờng kết quả kinh doanh, ứng dụng vào đánh giá thực trạng kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh nông sản ở tỉnh Đắk Nông. Từ những phân tích, nghiên cứu của đề tài sẽ phải đánh giá đƣợc thực trạng kinh doanh doanh, đƣa ra đƣợc nguyên nhân căn cốt chủ yếu có khoa học, thực tiễn đối với những hạn chế khó khăn của doanh nghiệp, cùng doanh nghiệp đƣa ra các giải pháp kết quả nhằm vƣợt qua khó khăn để ổn định phát triển bền vững, cạnh tranh sòng phẳng trên sân nhà và thị trƣờng quốc tế.
Sử dụng các kết quả nghiên cứu để so sánh, phân tích các doanh nghiệp khác trong tƣơng lai.