Đặt vấn đề Thực vật từ lâu đã trở thành nguồn thực phẩm cũng như nguồn dược liệu quý trong nhân gian. Cùng với sự phát triển kinh tế của nước ta, con người đã biết lựa chọn nguồn thực phẩm sạch và an toàn. Đặc biệt là nguồn thực phẩm từ thực vật có lợi cho sức khỏe và có tác dụng chống lại một số bệnh tật. Thực vật chứa các chất chống oxy hoá tự nhiên như phenolics, flavonoids, tannis, vitamins, quinines,… có nhiều chức năng sinh học quý có giá trị cải thiện chất lượng và dinh dưỡng của thực phẩm.
Vì vậy, thực vật sẽ là nguồn nguyên liệu tốt cho việc chiết xuất và ứng dụng các hợp chất hoạt tính sinh học. Hiện nay có nhiều loại cây có tác dụng sinh học rất tốt cho con người, nhưng thành phần hoạt chất của chúng chưa được nghiên cứu và khai thác hết chẳng hạn như cây mắc cỡ, hà thủ ô, bồ công anh,… Trong đó cây mắc cỡ hay còn có tên gọi khác là cây trinh nữ hay hàm tu thảo. là một loại cây vô cùng thân thuộc với mọi người được tìm thấy rất nhiều trong tự nhiên tại Việt Nam. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đến đây là một loại thảo dược quý, có nhiều tác dụng tốt đối với sức khỏe con người.
Cây mắc cỡ là một loại thảo dược có vị ngọt, tính hơi se, hơi hàn, thường được dùng trong hỗ trợ điều trị các bệnh như mất ngủ, hen suyễn,… giúp an thần vô cùng hiệu quả. Thân, lá và rễ của cây đều chứa các hợp chất sinh học rất tốt mà chưa được nghiên cứu. Vì vậy, sử dụng mắc cỡ như một loại nguyên liệu trong sản xuất trà thảo dược túi lọc có thể dễ dàng sử dụng đối với mọi đối tượng tiêu dùng (Đồng Thị Nhâm, 2019). Trà là một trong những thức uống truyền thống của người Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới.
Với ưu thế phát triển trong nhiều năm qua, trà đã chiếm một thị trường đồ uống lớn trên thế giới. Ngày nay, trên thị trường có rất nhiều loại trà thảo dược như: trà hoa cúc, trà sen, trà atiso,… có tác dụng thanh nhiệt, giải độc cho cơ thể, ngăn ngừa và phòng bệnh (Nguyễn Thị Hằng, 2010). Do cuộc sống và công việc căng thẳng, nhiều người thường xuyên thức đêm dẫn đến mất ngủ, không chỉ riêng ở nam giới mà nữ giới cũng gặp phải tình trạng mất ngủ. Vì vậy, 1 một số người đang tìm kiếm các loại trà thảo dược giúp hỗ trợ điều trị mất ngủ, cải thiện sức khoẻ và trà thảo dược càng thu hút được nhiều sự quan tâm của mọi người.
Đặc biệt, trà mắc cỡ là một loại trà thảo mộc có rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ và tôi quyết định thực hiện đề tài này với mong muốn tạo ra một sản phẩm tăng cường sức khoẻ, giúp phòng bệnh và hỗ trợ điều trị mất ngủ cho mọi người. Từ đó đề tài “Tìm hiểu quy trình chế biến trà túi lọc từ cây mắc cỡ (Mimosa pudica Linn)” được thực hiện.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm tạo ra sản phẩm dùng để giải khát phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng vừa có chức năng hỗ trợ sức khoẻ trong việc điều trị và phòng ngừa nhiều loại bệnh khác nhau, đồng thời sử dụng nguồn nguyên liệu dồi dào có sẵn trong nước góp phần đa dạng hoá các sản phẩm từ trà. 2 CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về cây mắc cỡ 2.1 Phân loại thưc vật Tên khoa học: Mimosa pudica Linn. Tên thường gọi: Cây mắc cỡ, trinh nữ, cây xấu hổ… Tên tiếng anh: sensitive grass, sensitive plant… Cây mắc cỡ được phân loại thực vật như sau: Ngành: Ngọc lan (Mangnoiophyta) Lớp: Ngọc lan (Mangnoliosida) Phân lớp: Hoa hồng (Rosidae) Bộ: Đậu (Fabaceae) Họ: Đậu (Fabaceae) Phân họ: Trinh nữ (Mimosaceae) Chi: Trinh nữ (Mimosa) Loài: Mimosa pudica L Hình 2.1: Cây mắc cỡ (Nguồn: https://lavenderhanoi.com/cay-xau-ho/) 2.2 Đặc điểm thực vật Mắc cỡ là loại cây nhỏ, nằm úp xuống đất hay leo dây, mọc thành từng bụi.
Một số cây có thể xem như là thảo mộc thân gỗ. Có thể cao tới 1m nếu cho leo trên thân cây khác và mọc lan ra 2 m. Nó mọc hoang, lòa xòa ở ven đường cái, cây nhỏ cao 30 – 40 cm. Thân cành của cây có màu 3 nâu đỏ hay màu tím, gai hình móc dày đặc, lá kép chân vịt mang bốn nhánh lá chét xếp lông chim.
Lá chét nhỏ có 15 – 20 đôi, gần như không có cuống, khi động vào sẽ cụp xuống. Cuống chung gầy mang nhiều lông dài khoảng 4 cm, cuống phụ hai đôi có lông trắng cứng. Hoa màu tím đỏ quả giáp dài 2 cm, rộng 3 mm tụ thành hình ngôi sao thắt lại ở giữa các hạt có lông cứng ở bên mép. Hạt gần như hình trái xoan dài 20 mm, rộng 1,5 mm.
Cây mắc cỡ là loài cây ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm ở bãi sông, ven đường đi, nương rẫy, vườn trái cây hay ở các ruộng bỏ hoang nhiều ẩm, màu mỡ. Nó có thể phát triển ở cả những nơi bị xói mòn hay đất khô cằn. Cây có khả năng chịu được khô hạn và nắng nóng (nhiệt độ lên tới 38°C) ở các vùng bán hoang mạc tại miền Trung. Cây có thể mọc đơn lẻ hay xen lẫn trong các bụi cỏ hay leo lên các thân cây cao.
Cây sinh sản nhanh chóng, không sống dưới bóng râm và cạnh tranh với các cây to hay phát triển dưới vòm các cây to. Rễ của nó thải ra khí carbon disulfit, cạnh tranh với các cây khác bằng rễ mọc chằng chịt có nấm gây bệnh. Loài cây này có phản ứng như động vật, khi bị tiếp xúc hoặc do tác động của luồng gió thổi, các lá tự xếp lại với nhau và cuống lá cụp xuống, 15 – 20 phút sau, cây mới trở lại trạng thái bình thường (Đỗ Tấn Lợi, 2004).2: Cấu tạo cây mắc cỡ (Nguồn: https://lavenderhanoi.com/cay-xau-ho/) 2.3 Đặc điểm sinh sản và phát triển Cây mắc cỡ cho hoa và hạt từ tháng tư đến cuối tháng sáu. Tuy nhiên, nếu khí hậu ôn hòa, cây sẽ cho hạt từ tháng tư đến tháng mười hai.
Mỗi cây có thể tạo ra khoảng 42000 hạt/ năm. Sau 7 ngày gieo hạt, 4 hạt sẽ nảy mầm và xác suất nảy mầm là 80% ở nhiệt độ 20 – 40 oC. Cây mắc cỡ có thể sống 1- 2 năm. Loài cây này được nhân giống bằng hạt hoặc cắt cành.
Nếu nhân giống bằng hạt, hạt cần được ngâm trong nước nóng sau đó lấy ra và để hạt vào trong đất, phủ lên từ hai đến ba lần độ dày của hạt, không nên tưới nhiều nước cũng không nên để khô hạn quá, không cho ứ nước và cần ánh sáng tốt, hạt sẽ nảy mầm trong vài ngày (Dong and Zhang, 2003).4 Nguồn gốc và phân bố Cây mắc cỡ hay cây trinh nữ (có tên khoa học là Mimosa pudica L), thuộc phân họ: Trinh nữ (Mimosaceae) một loại cây ưa sáng, sinh trưởng phát triển nhanh, thường mọc trên đất ẩm ở bãi sông, ven đường, nương rẫy hay ở các ruộng bỏ hoang. Chúng phân bố rộng rãi ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á bao gồm Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam và Lào… Tuy nhiên, nguồn gốc chung của loài mắc cỡ (Mimosa pudica L) lại có xuất xứ từ vùng châu Mỹ nhiệt đới. Chi Mimosa L có khoảng 400 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở kh vực nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi và châu Á và ở Việt Nam có bốn loài trong đó có cây mắc cỡ. Căn cứ vào sự khác nhau của chiều dài chi nhị và lông ở ống tràng có dưới bốn loài (var) khác nhau: Mimosa pudica L.
var pudica, Mimosa pudica L. var tetrandra, Mimosa pudica L. hispida Brenan, Mimosa pudica L.2 Tác dụng dược lý của cây mắc cỡ Hoạt tính kháng khuẩn của chlorophyllin được chiết xuất từ lá tươi của cây mắc cỡ có tác dụng chống lại Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Klebsiella pneomoniae được xác định bằng phương pháp khuếch tán giếng thạch. (Rajalakshmi et al.
Hợp chất chlorophyllin ở nồng độ 25 µg/mL cho thấy vùng ức chế đáng kể đối với Pseudomonas aeruginosa = 12 mm, Escherichia coli = 8 mm, Staphylococcus aureus = 14 mm và Klebsiella pneumoniae = 13 mm khi ở nồng độ 100 µg/mL, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Klebsiella pneomoniae, Candida albicans = 18 mm, 13 mm, sự ức chế lần lượt là 19 mm và 18 mm được quan sát thấy. Chất kháng sinh streptomycin 5 sulphate và chất kháng nấm nystatin tiêu chuẩn ở nồng độ 10 µg/mL cho thấy khả năng ức chế tối đa là 18 mm –19 mm (Nana et al. Hoạt tính kháng nấm của 2-hydroxymethyl-chroman-4-one phân lập từ rễ mắc cỡ đã được kiểm tra trên nhiều chủng khác nhau như Pythium ultimum, Phytophthora capsici, Rhizoctonia solani, Botrytis cinerea và Sclerotinia sclerotiorum bằng phương pháp đĩa thạch pha loãng. Hợp chất 2-hydroxymethyl-chroman-4-one cho thấy giá trị ED50 (effective dose là lều có hiệu quả ở 50% số con vật thí nghiệm) có hiệu quả đáng kể so với Phytophthora capsici, Sclerotinia sclerotiorum và Pythium ultimum = 5,7 µg/mL, 52,1 µg/mL và 54,9 µg/mL (Kang et al.
Axit amin L-mimosine được chiết xuất từ chiết xuất hydroalcoholic của mắc cỡ và hoạt tính chống oxy hóa được xác định bằng xét nghiệm nhặt gốc tự do DPPH. Axit amin L-mimosine ở nồng độ 250 μM cho thấy hoạt động đáng kể (IC50 = 233,06 μM). Khả năng gây độc tế bào của axit amin L-mimosine chiết xuất từ mắc cỡ bằng xét nghiệm MTT (3-(4,5- dimethythiazol-2-yl)-2,5-diphenyl tetrazolium bromide) đối với dòng tế bào daudi đã được báo cáo. Sau 72 giờ, hợp chất axit amin L-mimosine có giá trị IC50 là 86,61 μM.
Hợp chất này hoạt động như chất ức chế mạnh mẽ sự tăng sinh tế bào và cho thấy hoạt tính gây độc tế bào đáng chú ý (Parmar et al., 2015; Thompson et al. Các nhà khoa học đã sàng lọc khả năng gây độc tế bào của các chất phân lập (2-(2′,6′-dimethyl-3′,4′,5′-alkyl hoặc hydroxy alkyl thế phenyl)-3- oxy-(alkyl hoặc hydroxy alkyl) 5,7-dihydroxy-chromen-4-one) từ mắc cỡ bằng cách sử dụng xét nghiệm MTT (3-(4,5-dimethythiazol-2-yl)-2,5- diphenyl tetrazolium bromide) chống lại ung thư biểu mô tuyến phổi ở người (A549) và dòng tế bào hồng cầu (K562). Hợp chất này có IC 50 đáng kể so với A549 = 76,67 µg/mL và K562 = 287,63 µg/mL, trong khi Doxorubicin đối chứng dương tính cho thấy giá trị IC 50 là 2,76 µg/mL và K562 = 4,72 µg/mL so với A549 (Jose et al.1 Theo y học cổ truyền Cành và lá cây mắc cỡ có vị ngọt đắng, có tác dụng an thần được điều trị mất ngủ, sưng tấy và mưng mủ. Rễ cây có vị chát hơi đắng giúp thông kinh được dùng đề phòng và điều trị các bệnh về phong thấp, viêm 6 dạ dày, hen suyễn, chữa bệnh nhức xương.
Lá và hạt của cây có thể điều trị các bệnh về da liễu.