Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 1. Khái niệm định tội danh trong luật hình sự Việt Nam Định tội danh là xác định tên của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự qua việc xác định điều luật trực tiếp điều chỉnh tội phạm. Trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự, các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều phải tiến hành định tội danh.
Định tội danh là bước đầu xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Đây chính là nền tảng, ảnh hưởng tới toàn bộ các hoạt động xác định trách nhiệm hình sự tiếp theo: định khung và quyết định hình phạt. Chỉ có thể xác định khung hình phạt và hình phạt khi đã xác định chính xác tội danh và nếu việc định tội danh sai sẽ kéo theo toàn bộ các kết quả của quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự trở thành sai lầm và không có giá trị pháp lý. Hiện nay về định tội danh còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau và chưa có những nghiên cứu chuyên sâu đảm bảo đúng cho việc định tội.
Các học giả nước ngoài đã đưa ra nhiều nhận định khác nhau về định tội danh, có thể chỉ ra hai học giả tiêu biểu đó là Viện sĩ Kuđriavtxev VN (Liên Xô cũ) và Học giả Sliapôtrnhikôv A. Trong khi Viện sĩ Kuđriavtxev VN cho rằng: Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý hình sự, sự phù hợp, chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi được thực hiện với các cấu thành tội phạm do quy phạm pháp luật hình sự quy định. Học giả Sliapôtrnhikôv A.C thì lại cho rằng: Định tội danh là một giai đoạn của hoạt động bảo vệ pháp luật do các Cơ quan điều tra, truy tố, xét xử thực hiện trên 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ sở các quy phạm pháp luật hình sự và dựa vào các tình tiết thể hiện sự nguy hiểm cho xã hội của một hành vi cụ thể để xác định dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng với hành vi đó. Khoa học luật hình sự Việt Nam cũng chưa có sự thống nhất chung về khái niệm định tội danh.
Điển hình là trong "Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự", GS. Lê Cảm đã đưa ra định nghĩa có tình mô tả, chỉ dẫn hoạt động cũng như yêu cầu và ý nghĩa của việc định tội danh như sau: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tình logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự, và được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật [2]. Lê Văn Đệ thông qua việc đưa ra nghiên cứu chế định nhiều tội phạm lại đưa ra định nghĩa: "Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp luật sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định" [14]. Ngoài ra, trong các tài liệu tham khảo và sách báo pháp lý khác, chúng ta còn gặp một số định khác về định tội danh có nội dung tương tự.
Các học giả, nhà nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu định tội danh ở góc độ áp dụng pháp luật, xác định sự phù hợp giữa hành vi xảy ra trên thực tế và các quy định của Bộ luật hình sự. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên dù khác nhau về các tiếp cận, phương pháp diễn đạt cũng như mục đích mà tác giả hướng tới song ở các định nghĩa về định tội danh đều thống nhất ở điểm: định tội danh là hoạt động đối chiếu, so sánh về mặt pháp luật nhằm xác định một tội phạm xảy ra trên thực tế có tên gọi là gì theo quy định của pháp luật hình sự. Bộ luật hình sự là nguồn duy nhất để xác định một hành vi là tội phạm cũng như các loại tội phạm theo ý chí của Nhà nước. Bộ luật hình sự được kết cấu thành hai phần, trong đó Phần các tội phạm cụ thể được phân chia thành các chương có nhiệm vụ bảo vệ các khách thể thuộc cùng một nhóm.
Mỗi chương có các điều luật cụ thể với tên gọi riêng, được ghi nhận ngay liền sau số thứ tự. Và đó chính là tội danh của tội phạm thỏa mãn cấu thành mà điều luật mô tả. Luật hình sự Việt Nam đặt tên cho các tội phạm thường dựa vào các đặc trưng, những điểm khác biệt của tội phạm đó so với các tội phạm khác thuộc cùng nhóm khách thể. Ví dụ: - Dựa vào đặc điểm của hành vi, tội danh là tên của hành vi khách quan: Tội gián điệp (Điều 80), Tội hiếp dâm (Điều 111), Tội bức tử (Điều 100), Tội vu khống (Điều 122); Tội nhận hối lộ (Điều 203); - Dựa vào đặc điểm của hành vi khách quan và đối tượng tác động, tội danh là tên hành vi và đối tượng bị xâm hại: Tội giết người (Điều 93); Tội giết con mới đẻ (Điều 94); Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112).
- Dựa vào đặc điểm của hành vi khách quan, ý thức chủ quan và đối tượng tác động, tội danh là tên của loại lỗi, hành vi và đối tượng tác động: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 104); Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118); Tội vô ý làm chết người (Điều 98); Tội quảng cáo gian dối (Điều 168). - Dựa vào loại lỗi, đối tượng tác động và hậu quả, tội danh là tên của loại lỗi và tính chất của thiệt hại: Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145); Tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165). 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mỗi tội danh, mỗi loại tội phạm đều có giới hạn hình phạt xác định tương đối (mức thấp nhất và cao nhất) để áp dụng cho các chủ thể đã thực hiện và chỉ những chủ thể đã thực hiện tội danh này mới có thể bị áp dụng các chế tài đã được quy định trong điều luật. Hệ thống các quy định của pháp luật hình sự có các nguyên tắc đảm bảo mỗi tội phạm cụ thể có một và chỉ một tội danh; không thể có một hành vi nguy hiểm cấu thành đồng thời cả hai chế tài áp dụng với chúng.
Không có áp dụng tương tự trong luật hình sự, do đó việc định tội phải tuân thủ tuyết đối các quy định về nội dung của Bộ luật hình sự và chỉ Bộ luật hình sự mới là căn cứ pháp lý cho định tội danh. Tuy nhiên với tư cách là vấn đề cơ bản trong hoạt động tố tụng hình sự, hoạt động định tội danh còn phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục, thẩm quyền. Xét ở góc độ chung nhất, định tội danh là một quá trình nhận thức phức tạp. Bộ luật hình sự Việt Nam phân chia tội phạm nói chung thành các tội riêng lẻ với những đặc trưng nhất định và có tên gọi khác nhau.
Tương ứng với mỗi tội phạm đều có một điều luật riêng để điều chỉnh về loại tội phạm đó, tên của điều luật này chính là tội danh. Tại các điều luật đều thường có phần mô tả các hành động hoặc không hành động của chủ thể, các thiệt hại, đối tượng bị tác động, lỗi của người phạm tội. Đây chính là các yếu tố của cấu thành tội phạm, cho phép xác định những hành vi thỏa mãn các dấu hiệu này và một số các dấu hiệu được ghi nhận trong các điều luật thuộc Phần chung của Bộ luật hình sự (về năng lực trách nhiệm hình sự, tuổi, lỗi, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.) là tội phạm với tội danh là tên của điều luật. Hoạt động định tội danh phải nhận thức về tội phạm cụ thể và pháp luật hình sự để có kết luận về loại tội phạm thông qua việc xác định điều luật thuộc Phần các tội phạm cụ thể trực tiếp điều chỉnh tội phạm nên định tội danh là một quá trình nhận thức trải qua các giai đoạn khác nhau như xác định 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một hành vi là tội phạm: căn cứ vào định nghĩa về tội phạm tại Điều 8 của Bộ luật hình sự, từ việc xem xét khái quát các sự kiện xảy ra để khẳng định hành vi có nguy hiểm cho xã hội là tội phạm theo định nghĩa này; xác định nhóm các quy phạm pháp luật hình sự điều chỉnh tội phạm, tức là xác định tội phạm được quy định tại chương nào của Bộ luật hình sự thông qua việc xác định nhóm khách thể bị tội phạm xâm hại.
Xác định điều luật trực tiếp điều chỉnh tội phạm: mỗi tội phạm bao giờ cũng có những đặc trưng nhất định và được luật hình sự ghi nhận là dấu hiệu bắt buộc, sự tổng hợp của các dấu hiệu này trong khoa học luật hình sự gọi là cấu thành tội phạm (cơ bản). Để khẳng định một hành vi phạm tội người định tội danh phải chứng minh được hành vi thực tế đã có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản và sự thể hiện này phải là sát hợp nhất, trừ một số trường hợp đặc biệt: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm. Việc phân chia các giai đoạn trong định tội danh chỉ có tính ước lệ, bởi thực tế các hoạt động này có diễn ra đồng thời, đan xen, bổ trợ cho nhau khó có thể phân tách chính xác.