Chương 1: Lý luận về định tội danh đối với tội Vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Chương 2: Cơ sở pháp luật hình sự về định tội danh đối với tội Vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn định tội danh đối với các vi phạm trong hoạt động ngân hàng, hoạt động khác có liên quan, một số khó khăn, vướng mắc và các giải pháp khắc phục. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG, CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƢỚC NGOÀI 1.
Khái niệm, đặc điểm của định tội danh Định tội danh là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giải quyết vụ án một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật. Việc nghiên cứu về định tội danh luôn là một trong những trọng tâm nghiên cứu cơ bản và là nhiệm vụ quan trọng của Khoa học luật hình sự [1, tr. Khái niệm định tội danh Trong Khoa học luật hình sự, dưới những góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm định tội danh khác nhau. Tuy vậy, dù dưới góc độ nào thì cần cũng phải khẳng định: Nhiệm vụ của định tội danh là xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS hay không? Nếu hành vi cấu thành tội phạm thì đó là tội gì, thuộc khung hình phạt nào và được điều, khoản nào của BLHS quy định? Mục đích của định tội danh là nhằm xác định đầy đủ sự thật về các tình tiết khách quan của vụ án; đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý và thực tiễn, làm tiền đề cho việc xử lý trách nhiệm hình sự (quyết định khởi tố, truy tố hoặc ra phán quyết trong xét xử) và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.
Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cũ (Liên bang Nga hiện nay) Kuđriavtxev V. coi “định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm do quy phạm pháp luật hình sự quy định” [1, tr. Đồng nhất với quan điểm nêu trên, Giáo sư, tiến sĩ Võ Khánh Vinh cũng đưa ra khái niệm tương tự: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định” [42, tr. Đây là khái 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm tương đối rõ ràng, đồng thời làm rõ được nhiệm vụ của định tội danh.
Tuy vậy, khái niệm trên còn chưa làm sáng tỏ những đặc điểm cụ thể của khái niệm này như: Chủ thể của việc định tội danh, cách thức (dạng) tồn tại của phạm trù này. thì cho rằng: Định tội danh là một giai đoạn của hoạt động bảo vệ pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử thực hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và, dựa vào các tình tiết thể hiện sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi cụ thể để xác định dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng với hành vi đó [1, tr. Khái niệm này đồng nhất hoạt động định tội danh với một bộ phận của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lê Văn Cảm định nghĩa: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính Logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và, được tiến hành bằng cách – trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định [1, tr.
Chia sẻ với khái niệm nêu trên, Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Độ đưa ra khái niệm định tội (danh): Định tội là một hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật được thể hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nhất định với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [27]. Tác giả đồng ý với quan điểm nêu trên của hai nhà khoa học bởi đây là 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những khái niệm cụ thể và toàn diện về thuật ngữ định tội danh, thể hiện được những đặc điểm cơ bản, riêng có của phạm trù này. Khái niệm nêu trên không chỉ làm rõ nhiệm vụ của định tội danh mà còn chỉ rõ dạng tồn tại của phạm trù này là một “quá trình (hoạt động) nhận thức” và là “một hoạt động áp dụng pháp luật”, qua đó đã khái quát những đặc trưng cơ bản của Định tội danh. Đặc điểm của định tội danh Từ khái niệm Định tội danh đã nêu trên, có thể phân tích những đặc điểm cơ bản của khái niệm này như sau: Thứ nhất, định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận được thể hiện dưới hai khía cạnh: 1) Xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp (tương đồng) với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể do Điều tương ứng trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự hay không? 2) Trên cơ sở đó, đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã xảy ra trong thực tế khách quan [1, tr.21]; Thứ hai, vì đây là một hoạt động áp dụng pháp luật nên chủ thể của hoạt động này là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự.
Kết quả của hoạt động này là các văn bản áp dụng pháp luật (Lệnh, quyết định, cáo trạng, bản án…); Thứ ba, cơ sở pháp lý duy nhất để định tội danh là cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự. Bộ luật hình sự quy định về các cấu thành tội phạm đối với từng tội danh cụ thể để từ đó, những chủ thể tiến hành tố tụng “xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm”; Thứ tư, định tội danh với tính chất là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành về cơ bản theo bốn bước cụ thể là: Xem xét và thiết lập đúng các tình tiết thực tế của vụ án trong sự phù hợp với hiện thực khách quan; Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các quy phạm pháp luật hình sự đang có hiệu lực thi hành; 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lựa chọn đúng điều luật tương ứng trong Bộ luật hình sự quy định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm cụ thể để so sánh, đối chiếu và kiểm tra các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đó với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện; Cuối cùng là sau khi đã so sánh, đối chiếu và kiểm tra đầy đủ, chính xác thì ra một văn bản áp dụng pháp luật mà trong đó đưa ra kết luận có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về sự phù hợp của hành vi thực tế đã thực hiện với cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong BLHS [1, tr. Khái quát một số vấn đề chung về định tội danh đối với tội Vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài 1. Khái quát lịch sử các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và hoạt động ngân hàng tại Việt Nam Ngân hàng được xem là TCTD đầu tiên và cơ bản nhất.
Hoạt động ngân hàng theo nghĩa hiện đại của nó đã phát triển từ thế kỷ XIV tại các thành phố giàu có của Ý thời Phục hưng, trong nhiều cách là một sự tiếp nối của những ý tưởng và khái niệm của tín dụng và cho vay bắt nguồn từ thế giới cổ đại. Tuy nhiên, do những đặc điểm về tự nhiên – xã hội mà tại Việt Nam, hoạt động ngân hàng theo ý nghĩa hiện đại được hình thành và phát triển tương đối muộn. Sự hình thành và phát triển hoạt động ngân hàng và các TCTD trải qua ba giai đoạn lớn như sau: Thời kỳ pháp thuộc Trong suốt thời kỳ tồn tại của các triều đại phong kiến Việt Nam cho đến nửa đầu thế kỷ 19, ở Việt Nam chưa có hoạt động ngân hàng. Đến giữa thế kỷ 18, khi Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, được sự tán thành của Quốc hội Pháp, ngày 21-01- 1875, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh về việc “thiết lập Đông Dương ngân hàng và cho cơ quan này được hưởng độc quyền phát hành tiền tại các xứ Đông Dương, các thuộc địa Pháp miền Thái Bình Dương và các tỉnh Ấn Độ thuộc Pháp” [2, tr.198] và sau đó cho phát hành tờ tiền Đông Dương.
Từ đây, nền kinh tế Đông Dương phụ thuộc hoàn toàn vào Ngân hàng Đông Dương. Đây là một ngân hàng cổ phần, tất cả số cổ phiếu trên đều được tư nhân thu mua. Cho nên, có thể gọi Ngân hàng Đông 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dương là một ngân hàng trung ương tư hữu của xứ thuộc địa (vì là ngân hàng có đặc quyền phát hành tiền tệ cho xứ thuộc địa) [29].