Chương 1: Cơ sở lí luận. Chương 2: Định tố danh từ tiếng Việt xét trên bình diện cấu trúc. Chương 3: Định tố danh từ tiếng Việt xét trên bình diện ngữ nghĩa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Khái quát về danh từ tiếng việt 1. Khái niệm và đặc điểm danh từ tiếng Việt Bàn về DT , các nhà Việt ngữ học đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau. Nguyễn Kim Thản trong chuyên luận của mì nh cho rằng : “DT là một loại thực từ biểu thị sự vật tí nh (sinh vật ) vật thể , hiện tượng , sự việc trong đời sống thực tại và tư duy có những đặc trưng ngữ pháp sau đây: a) Không trực tiếp làm vị ngữ. Do đó : Khi làm vị ng ữ, phải có quan hệ từ là (câu khẳng đị nh) hoặc không phải, không phải là (câu phủ đị nh), không đặt sau các từ như : đừng, hãy, sẽ .v… b) Có thể kết hợp với một trong những từ loại sau đây và được từ loại này xác định , hạn chế : số từ (một, hai.
Hiểu theo nghĩ a rộng ý nghĩ a trong thực tại, được nhận thức và được phản ảnh trong tư duy của người bản ngữ như là những sự vật” [1, tr78]. “Danh từ theo truyền thống được đị nh nghĩ a là từ loại mang ý nghĩ a sự vật tí nh” [15, tr 57]. Theo Nguyễn Tài Cẩn [5, tr 27-30] danh từ có ba đặc điểm chí nh: Đặc điểm thứ nhất : danh từ là từ loại có thể đứng làm trung tâm của một đoản ngữ có sơ đồ như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 Vị trí Vị trí Vị trí Vị trí Vị trí Vị trí Vị trí 4 3 2 1 trung tâm 0 1’ 2’ Tất cả ba cái con mèo đen ấy Ở vị trí 4 có thể có những từ “tất thảy, tất cả, cả”; a. Ở vị trí 3 có thể có số từ, những từ như “vài, mấy, từng” và các hư từ như “những, các”; b.
Ở vị trí 2 chỉ có một từ duy nhất là từ chỉ xuất “cái”; c. Ở vị trí 1 có thể có loại từ; d. Ở vị trí 1’ là những từ giữ chức vụ đị nh ngữ ; e. Còn vị trí 2’ là vị trí của từ chỉ trỏ (“ấy, này, nọ, nào…”).
Đặc điểm thứ hai : Danh từ là từ loại có thể đứng liền sau những từ chỉ vị trí “trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau, giữa…”. Ví dụ: “Tối nay mợ ra ngoài vườn, cắt một buồng chuối mật để về giỗ ông” (Thanh Tị nh (1957), Quê mẹ. Hà Nội, tr 9). Nếu gặp trường hợp danh từ không đứng liền sau chúng thì chen vào ở giữa chỉ có thể là những từ thuộc vị trí 4, 3, 2, 1 đã nêu ở trên mà thôi.
Ví dụ: “Nguyễn Công Hoan là một trong những cây bút viết lâu năm hơn hết” (Nguyễn Công Hoan (1956), Bước đường cùng. Hà Nội, tr 5). Đặc điểm thứ ba : Danh từ là từ loại không thể độc lập làm vị ngữ. Đó là một từ loại không có vị ngữ tính.
Đặc điểm thứ ba trên đây là một đặc điểm hết sức cơ bản , đối lập hẳn danh từ với động từ, tính từ [1, tr 78]. Thứ hai, về vai trò ngữ pháp, DT tiếng Việt “thường làm chủ ngữ trong câu” [39, tr 242]; “có đầy đủ chức năng cú pháp của thực từ. Trong mối quan hệ với động từ , tính từ, nét riêng biệt của danh từ là ít được dùng làm vị ngữ đặt trực tiế p sau chủ ngữ của câu” [1, tr 78]. Quan điểm này trùng với quan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 điểm của Nguyễn Tài Cẩn [5] ở đặc điểm thứ ba như đã nêu ở trên.
Trong những trường hợp đó Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung cũng cho rằng : “thường danh từ được kết hợ p với một từ biểu thị quan hệ ngữ nghĩ a - ngữ pháp giữa hai thành phần câu (ví dụ trường hợp kiểu câu có cấu tạo vị ngữ là + danh từ)”. Thứ ba, về khả năng kết hợp “DT có khả năng kết hợp với đại từ chỉ đị nh: này, kia, ấy, nọ…(nhà kia, thắng lợi này , việc nọ , cuốn ấy…). DT còn có khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ (số từ biểu thị ý nghĩ a số lượng đơn vị sự vật hay số lượng sự vật)”[1, tr 78]. Như vậy, từ những khái niệm và đặc điểm như đã nêu ở trên , trong đề tài này , chúng tôi tán thành quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn và một số nhà khoa học cho rằng: DT là những từ chỉ người , loài vật, cây cối, đồ vật, sự vật, khái niệm trừu tượng…; DT thường giữ chức vụ chủ ngữ trong câu ; có khả năng kết hợp với đại từ chỉ đị nh , kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ , không thể độc lập làm vị ngữ… ; DT được kết hợp với một từ biểu thị quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp giữa hai thành phần câu , nó cũng có đầy đủ chức năng cú pháp của thực từ… 1.
Vấn đề ranh giới của danh từ tiếng Việt Như chúng ta đã biết, DT là một trong những từ loại thực từ quan trọng trong hệ thố ng ngữ pháp tiếng Việt. Nó làm chủ ngữ trong câu và thường đứng trước động từ , tính từ,… Bên cạnh đó , DT còn có thêm một số thành tố phụ đi kèm trong câu để tạo thành đoản ngữ , các đoản ngữ này được Nguyễn Tài Cẩn “gọi chung là định tố” [xem 6, tr 203]. DT tiếng Việt có một số bộ phận và cách dùng cần phải phân biệt với các từ loại khác. Nhóm thứ nhất là các từ chỉ hiện tượng thời tiết như : lũ, lụt, mưa, sấm, sét, bão, chớp… So sánh: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 Trời đang mưa.
Theo chúng tôi, chỉ nên coi những trường hợp các DT trên có khả năng kết hợp với những từ chỉ đơn vị ở trước là DT. Ví dụ: ánh chớp, cơn bão, làn gió, tiếng sấm, trận lụt. Các trường hợp còn lại nên coi là động từ. Nhóm thứ hai là các từ ghép đẳng lập mà mỗi thành tố đã bị tước bỏ ý nghĩa độc lập để tổng hợp thành một nghĩa chung có tính chất khái quát hơn từng yếu tố riêng lẻ.
Ví dụ như : nhà cửa , bạn bè , vợ co n, cơm nước, anh em,… Trong các trường hợp sử dụng mà các từ trên có thể kết hợp được với những thành tố phụ của động từ thì không thể coi là danh từ. Ví dụ: - Đã nhà cửa/ vợ con/ cơm nước gì chưa ? - Tao không bạn bè/ anh em gì với mày ! 1. Phân loại danh từ tiếng Việt Hầu hết các nhà Việt ngữ học đều chia danh từ thành hai loại : Danh từ riêng và danh từ chung. Nhưng khi phân thành các tiểu loại nhỏ hơn trong danh từ chung thì lại có nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm của Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung [1, tr79] là: Trong danh từ chung có sự đối lập: + Danh từ tổng hợp / danh từ không tổng hợp + Danh từ đếm được và danh từ không đếm được Đinh Văn Đức chia DT thành hai loại : danh từ cụ thể và danh từ trừu tượng [xem 15, tr 64-65]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 Nguyễn Tài Cẩn cũng chia DT thành hai loại : danh từ chung - danh từ riêng. Ông cho rằng trong từ loại danh từ tiếng Việt , có hệ thống tiểu loại như sau : Danh từ riêng Danh từ tổng hợp Danh Danh từ Danh từ chỉ đơn vị từ không Danh từ chỉ người chung tổng hợp Danh từ chỉ sự vật + khái niệm trừu tượng Danh từ chỉ động vật, thực vật Danh từ chỉ chất liệu Trong công trì nh này chúng tôi lấy quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn làm cơ sở cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan. Để tiện cho việc tì m và phân tích ngữ liệu trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi chia DT thành: danh từ riêng (DTR) và danh từ chung (DTC).
Danh từ chung được chúng tôi chia thành bốn loại: Danh từ chỉ đơn vị (DTCĐV); Danh từ chỉ sự vật (DTCSV); Danh từ chỉ chất liệu (DTCCL); Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng (DTCKNTT). Danh từ chỉ đơn vị có: Đơn vị tự nhiên (ĐVTN); Đơn vị nhân tạo (ĐVNT) có: Đơn vị tập thể; Đơn vị thời gian; Đơn vị không gian; Đơn vị sự việc; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 Đơn vị hành chí nh. Danh từ chỉ sự vật có: Danh từ chỉ người; Danh từ chỉ đồ vật; Danh từ chỉ thực vật; Danh từ chỉ động vật. Có thể sơ đồ hóa các tiểu loại DT như sau: DT DTR DTC DTCĐV DTCSV DTCCL DTCKNTT ĐVTN Người Đồ Thực Động ĐV NT vật vật vật ĐV ĐV ĐV ĐV ĐV tập thời không sự hành thể gian gian việc chính 1.
Khái quát về cụm từ , đoản ngƣ̃ , danh ngƣ̃ , đị nh tố, đị nh tố danh tƣ̀ trong tiếng Việt 1. Cụm từ Chúng tôi theo quan điểm thông dụng , cho Cụm từ là tổ hợp hai từ trở lên có quan hệ ngữ pháp , ngữ nghĩ a với nhau. Đơn vị này bao gồm cụm từ chính phụ (các thành tố có quan hệ chí nh phụ với nhau ), cụm từ chủ vị (các thành tố có quan hệ chủ vị với nhau) và cụm từ đẳng lập (các thành tố có quan hệ bì nh đẳng với nhau) [xem 28, 34]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
Đoản ngữ Đoản ngữ chí nh là cụm từ chí nh phụ , tức “cụm từ , trong đó các thành tố không bì nh đẳng nhau về mặt ngữ pháp : có thành tố chính và thành tố phụ” [xem 40, tr 64]. Ví dụ: (1) Huế / là một thành phố đẹp. Danh ngữ (cụm danh từ) Danh ngữ (DN) là đoản ngữ (hay cụm từ chí nh phụ ) có thành tố chính là danh từ [theo 40, tr 63] như ở ví dụ (1) trên. Về tổ chức của DN, chúng tôi tán thành quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn và một số nhà nghiên cứu khác, cho rằng DN gồm: + Bộ phận trung tâm do DT đảm nhiệm chiếm vị trí giữa lòng đoản ngữ.
Bộ phận này có thể là: a) Trung tâm đơn như gia đì nh trong những gia đì nh nghèo.