Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ tâm lý học của tác giả Trương Quang Lâm, chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 62 31 04 01), được bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trương Thị Khánh Hà và PGS. Lê Văn Hảo.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giá trị giữ vai trò là những chuẩn mực, quy tắc thúc đẩy và điều chỉnh hành vi của cá nhân trong xã hội. Gia đình là môi trường văn hóa đầu tiên truyền thụ các giá trị văn hóa truyền thống lẫn hiện đại, định hình nhân cách công dân. Tuy nhiên, bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) khiến hệ thống giá trị xã hội có nhiều biến động, hệ giá trị cũ và mới đan xen. Trong khi đó, việc định hướng giáo dục giá trị (ĐHGDGT) cho trẻ em trong gia đình ở Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh nghiệm chủ quan, thiếu tính nhất quán; một bộ phận cha mẹ coi nhẹ hoặc định hướng những giá trị chưa phù hợp lứa tuổi. Giáo dục nhà trường vẫn nặng về lý thuyết, chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng và hành vi. Mặt khác, các nghiên cứu tâm lý học trong nước trước đây chỉ tiếp cận giáo dục giá trị đơn lẻ, chưa có công trình mang tính hệ thống đi sâu khảo sát thực trạng ĐHGDGT cho trẻ em trong gia đình một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và các yếu tố chi phối.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực trạng ĐHGDGT của cha mẹ cho trẻ em trong gia đình; qua đó đưa ra một số kiến nghị giúp cha mẹ ĐHGDGT cho con phù hợp hơn trong bối cảnh CNH - HĐH đất nước.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ):
    1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ĐHGDGT cho trẻ em.
    2. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu ĐHGDGT cho trẻ em trong gia đình.
    3. Làm rõ thực trạng ĐHGDGT cho trẻ em trong gia đình qua việc tìm hiểu mục tiêu giáo dục giá trị của cha mẹ, việc lựa chọn giá trị và lựa chọn phương pháp giáo dục cho trẻ; cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHGDGT cho trẻ em trong gia đình.
    4. Đưa ra một số kiến nghị nhằm giúp các bậc cha mẹ có ĐHGDGT cho con phù hợp hơn với yêu cầu của xã hội hiện nay.

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 5 giả thuyết nghiên cứu chính:

  1. Đa số cha mẹ định hướng mục tiêu giáo dục con trở thành người coi trọng truyền thống và tuân theo các quy định; cha mẹ ít định hướng mục tiêu giáo dục con trở thành người giàu sang và quyền lực.
  2. Các giá trị mà cha mẹ ưu tiên lựa chọn giáo dục con là công bằng bình đẳng, quan tâm chăm sóc người khác; cha mẹ ít lựa chọn giáo dục con các giá trị tự chủ, mạo hiểm, và kiểm soát con người.
  3. Có sự khác biệt nhất định theo địa bàn sinh sống và nghề nghiệp của cha mẹ trong việc lựa chọn giá trị giáo dục con.
  4. Các phương pháp giáo dục giá trị mà cha mẹ lựa chọn nhiều nhất là làm gương và phân tích, giải thích. Có sự khác biệt theo nghề nghiệp của cha mẹ trong việc lựa chọn các phương pháp giáo dục giá trị cho con.
  5. Trong số các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHGDGT cho trẻ em trong gia đình thì yếu tố định hướng giá trị của cha mẹ có ảnh hưởng nhiều nhất đến ĐHGDGT cho trẻ.

Đối tượng và khách thể nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện ĐHGDGT cho trẻ em trong gia đình của các bậc cha mẹ, thể hiện qua việc xác định mục tiêu giáo dục giá trị cho con, việc lựa chọn giá trị và lựa chọn phương pháp giáo dục giá trị để hướng con tới mục tiêu đề ra.
  • Khách thể nghiên cứu: 490 cha mẹ (tạo thành 245 cặp cha - mẹ) và 245 học sinh bậc Trung học cơ sở (THCS) từ 11 đến 15 tuổi (lớp 6, 7, 8, 9), là con của các cặp cha mẹ nêu trên. Các gia đình tham gia khảo sát thuộc mô hình gia đình đầy đủ, có cả cha và mẹ cùng chung sống.

Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào hoạt động ĐHGDGT của cha mẹ (xác định mục tiêu, lựa chọn giá trị, lựa chọn phương pháp) và phân tích 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng: (1) Sự thống nhất quan điểm giữa các thành viên trong gia đình; (2) Kiến thức của cha mẹ; (3) Môi trường xã hội và phương tiện truyền thông; (4) Định hướng giá trị của cha mẹ.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 2 địa bàn thuộc thành phố Hà Nội đại diện cho khu vực đô thị và nông thôn: quận Hoàn Kiếm (đại diện trường học khu vực nội thành/thành thị) và huyện Mê Linh (đại diện trường học khu vực ngoại thành/nông thôn).
  • Phạm vi thời gian: Công trình được hoàn thành và bảo vệ vào năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả phân loại các nghiên cứu nước ngoài thành ba cụm vấn đề:

  1. Sự hình thành giá trị ở trẻ em:
    • Jean Piaget (1965): Gắn phát triển đạo đức với nhận thức qua hai giai đoạn: giai đoạn đồng nhất (5–10 tuổi, phụ thuộc tình cảm và sự vâng lời người lớn) và giai đoạn đạo đức tự chủ (từ 10 tuổi trở lên, độc lập phán xét, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác bình đẳng).
    • Lawrence Kohlberg (1971): Chia lập luận đạo đức thành 3 mức độ (Đạo đức tiền quy ước, Đạo đức quy ước, Đạo đức hậu quy ước) với 6 giai đoạn phát triển nhận thức về sự công bằng.
    • Nhóm tác giả lý thuyết học tập xã hội (John Locke, B.F. Skinner, Albert Bandura, Maccoby 1992, Poulson & Kymissis 1988): Trẻ tiếp thu giá trị thông qua hai con đường là dạy dỗ trực tiếp và bắt chước/khuôn mẫu hành vi của cha mẹ, được củng cố bằng khen thưởng hoặc kỷ luật; nhấn mạnh hành vi vị xã hội và khả năng tự điều chỉnh (Lamb, Ketterlinus & Fracasso 1990; Grace J. Craig & Don Baucum 2004).
  2. Nội dung giáo dục giá trị:
    • Tại Mỹ: Thomas Lickona (1991, 1992), Charles C. Haynes và Oliver Thomas (2011) nghiên cứu giáo dục tính cách dựa trên các giá trị phổ quát (liêm chính, trách nhiệm, tôn trọng, công bằng); khảo sát cho thấy cha mẹ Mỹ chú trọng rèn luyện tính tự lập và trách nhiệm qua việc nhà.
    • Tại Anh: Richard Layard phân tích giáo dục tinh thần, trí tuệ cảm xúc và khung chương trình giáo dục giá trị gồm 9 nội dung từ lớp 1 đến lớp 12.
    • Tại Úc: Khung chương trình giáo dục quốc gia quy định 9 giá trị cơ bản (chăm sóc, theo đuổi sự xuất sắc, công bằng, tự do, trung thực, chính trực, tôn trọng, trách nhiệm, khoan dung).
    • Khu vực Châu Á: Tài liệu SEAMEO INNOTECH (1992) tại Philippines với 7 giá trị cốt lõi; Thái Lan với 6 giá trị tính cách; Nhật Bản với định hướng kết hợp Nho giáo và hiện đại (tập trung vào 4 mối quan hệ: bản thân, người khác, tự nhiên, xã hội).
  3. Cách thức và phong cách giáo dục của cha mẹ:
    • Daniel Goleman (2007) và Durning (2000) nghiên cứu tác động của cảm xúc cha mẹ đến đứa trẻ.
    • Robert V. Kail và John C. Canvanaugh (2004), Rollins và Thomas (1979) phân tích hai trục hành vi: tình cảm/nhiệt tình và mức độ kiểm soát. Cha mẹ kiểm soát thuyết phục kết hợp yêu thương giúp trẻ phát triển nhận thức và tự đánh giá đạo đức tốt hơn so với kiểu độc đoán hoặc buông thả.
    • K. Ryan phân chia 4 phương thức tiếp thu giá trị: hô hào cổ vũ (Exhortation), noi gương (Example), kỳ vọng (Expectation), và trải nghiệm (Experience).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Dưới góc độ Văn hóa học: Các công trình của Trần Quốc Vượng (2005), Lê Ngọc Văn (2012), Trần Ngọc Thêm (2015) chỉ rõ truyền thống giáo dục gia đình Việt Nam lấy chữ hiếu, nghĩa, nếp nhà, tôn sư trọng đạo, yêu lao động và tinh thần tương thân tương ái làm gốc. Đồng thời chỉ ra hạn chế của đạo Nho truyền thống như tư tưởng trọng nam khinh nữ.
  2. Cơ chế hình thành giá trị: Nguyễn Quang Uẩn (2010), Trần Trọng Thủy (1993), Trần Thị Minh Đức (2008), Ngô Công Hoàn, Dương Thị Diệu Hoa (2012), Trương Thị Khánh Hà chỉ ra cơ chế tiếp nhận giá trị ở trẻ gồm tập nhiễm, bắt chước, học tập trải nghiệm và đồng nhất hóa tâm lý với cha mẹ.
  3. Mục tiêu và nội dung giáo dục giá trị: Phạm Minh Hạc (2013), Lê Đức Phúc (1992, 2009), Mạc Văn Trang (1993), Hồ Sĩ Quý (2005), Huỳnh Khái Vinh (2001) làm rõ vai trò của môn Đạo đức, Giáo dục công dân và các hệ giá trị Việt Nam; khảo sát xã hội học của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý (2007) công bố các tỷ lệ phụ huynh coi trọng giá trị truyền thống: hiếu thảo (88,5%), đoàn kết (80,5%), cần cù (76,5%), yêu nước (73,5%), học tập (70,5%), dũng cảm (45,5%). Ngô Công Hoàn (2006) phân loại cụ thể các giá trị đạo đức, xã hội, giá trị đồng tiền và thái độ lao động cho từng lứa tuổi tiểu học và THCS.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu trong nước đã đề cập nhiều đến văn hóa gia đình, mục tiêu giáo dục trong nhà trường hoặc các giá trị truyền thống, nhưng chưa có nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ tâm lý học thực nghiệm làm rõ cấu trúc định hướng giáo dục giá trị của cha mẹ (từ khâu nhận thức mục tiêu, lựa chọn nội dung giá trị đến lựa chọn phương pháp tác động) cho lứa tuổi học sinh THCS; chưa làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa định hướng giá trị của bản thân cha mẹ với giá trị họ định hướng cho con, cũng như mức độ tương thích giữa giá trị cha mẹ truyền đạt và giá trị thực tế trẻ hướng tới. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  • Định hướng: Luận án tiếp thu lý thuyết định hướng hành động của P. Galperin (chia định hướng thành định hướng mục đích và định hướng nội dung), kết hợp quan điểm của Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phan Trọng Ngọ và Nguyễn Huy Tú. Tác giả định nghĩa: Định hướng là hoạt động có ý thức, thể hiện ở việc xác định mục tiêu tổng quát cho hoạt động, từ đó cá nhân lựa chọn nội dung và cách thức thực hiện hướng tới mục tiêu đề ra.
  • Giá trị: Kế thừa quan điểm của Milton Rokeach (1973) về giá trị đích - giá trị phương tiện và lý thuyết của Shalom H. Schwartz (1992, 2006). Schwartz phân loại hệ thống giá trị thành 10 giá trị cốt lõi xếp trên 2 trục lưỡng cực tạo thành 4 nhóm định hướng lớn:
Nhóm định hướng giá trị Các giá trị thành phần cốt lõi
Tự nâng cao (Self-enhancement) Quyền lực (Power), Thành đạt (Achievement), Hưởng thụ (Hedonism)
Tự siêu việt (Self-transcendence) Nhân ái / Lòng nhân từ (Benevolence), Giá trị phổ quát (Universalism)
Bảo thủ (Conservatism) Truyền thống (Tradition), Đúng mực / Tuân thủ (Conformity), An toàn / An ninh (Security)
Cởi mở để thay đổi (Openness to change) Kích thích (Stimulation), Tự định hướng (Self-direction)

Sau đó, Schwartz (2006) phát triển thành thang đo 19 giá trị chi tiết (tự chủ suy nghĩ, tự chủ hành động, mạo hiểm/kích thích, hưởng thụ, thành đạt, quyền lực chi phối, kiểm soát vật chất, an toàn cá nhân, an toàn xã hội, tuân thủ quy tắc, tuân thủ liên cá nhân, khiêm nhường, truyền thống, lòng nhân ái, sự tin cậy, quan tâm chăm sóc, công bằng bình đẳng, bảo vệ thiên nhiên, khoan dung). Luận án sử dụng khung 19 giá trị này làm công cụ khảo sát thực nghiệm.

  • Giáo dục giá trị trong gia đình: Tác giả phân định giáo dục giá trị với giáo dục đạo đức, giáo dục tính cách và giáo dục công dân. ĐHGDGT trong gia đình được xác định là quá trình cha mẹ có ý thức xác định mục tiêu nhân cách cho con, từ đó chọn lựa hệ giá trị cần truyền tải và các phương pháp tác động tương ứng.

Quan điểm phương pháp luận

  1. Quan điểm duy vật biện chứng: Xem xét sự phát triển tâm lý và giá trị của trẻ trong mối quan hệ biện chứng giữa các điều kiện khách quan (kinh tế, chính trị, văn hóa, hoàn cảnh gia đình) và điều kiện chủ quan bên trong (đặc điểm tâm sinh lý, khí chất, tính tích cực của trẻ).
  2. Quan điểm hoạt động - giá trị - nhân cách: Tâm lý hình thành qua hoạt động và giao tiếp. Cha mẹ định hướng giá trị qua hoạt động sống hàng ngày và giao tiếp cảm xúc; trẻ tiếp thu và nội tâm hóa giá trị thông qua hoạt động thực tiễn.
  3. Quan điểm phát triển: Tiếp cận theo 4 hướng phát triển của tâm lý học trẻ em (thể chất, nhận thức/ngôn ngữ, nhân cách, văn hóa xã hội), tập trung vào sự hình thành nhận thức đạo đức của lứa tuổi học sinh THCS.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu hỏi dành riêng cho hai nhóm khách thể: phụ huynh và học sinh THCS. Thang đo sử dụng bảng hỏi 19 giá trị của Shalom H. Schwartz được hiệu chỉnh phù hợp bối cảnh văn hóa Việt Nam.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp cha mẹ và học sinh nhằm tìm hiểu sâu về động cơ, cách thức xử lý tình huống thực tế và tâm tư, nguyện vọng của các bên.
  • Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình: Khảo sát chi tiết hai trường hợp cụ thể (chị Th cùng con là em T; anh M cùng con là em Đ) để kiểm chứng sự tương tác giá trị thực tế giữa cha mẹ và con.
  • Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Dữ liệu định lượng được phân tích thống kê qua các chỉ số: Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định sai biệt thống kê theo biến nhân khẩu (tuổi, nghề nghiệp, khu vực), phân tích hệ số tương quan và mô hình hồi quy/dự báo ảnh hưởng.

Bảng tổng hợp mẫu khách thể nghiên cứu

Nhóm khách thể Địa bàn nghiên cứu Quy mô khảo sát Đặc điểm nhân khẩu
Cha mẹ Quận Hoàn Kiếm (nội thành Hà Nội) và Huyện Mê Linh (ngoại thành Hà Nội) 490 người (245 cặp vợ chồng) Thuộc các gia đình đầy đủ, có cha mẹ cùng chung sống; phân bố theo nhóm tuổi, nghề nghiệp khác nhau
Học sinh THCS Các trường THCS tại Hoàn Kiếm (mã hóa ký hiệu A) và Mê Linh (mã hóa ký hiệu B) 245 em Độ tuổi 11 đến 15 tuổi; theo học từ lớp 6 đến lớp 9 (mã phiếu phân lớp 6, 7, 8, 9)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về định hướng giáo dục giá trị cho trẻ em

Chương này tổng kết lịch sử nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nước. Tác giả phân tích các lý thuyết hình thành giá trị kinh điển của Jean Piaget (nhấn mạnh chuyển dịch từ đạo đức đồng nhất sang đạo đức tự chủ) và Lawrence Kohlberg (3 cấp độ, 6 giai đoạn phát triển nhận thức đạo đức), cùng lý thuyết học tập xã hội của Bandura (học qua quan sát, bắt chước và cơ chế củng cố). Phân tích nội dung và phương pháp giáo dục giá trị tại các quốc gia đại diện phương Tây (Mỹ, Anh, Úc) và phương Đông (Philippines, Thái Lan, Nhật Bản). Tại Việt Nam, tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu gia đình truyền thống dưới góc độ văn hóa học của Trần Quốc Vượng, Lê Ngọc Văn, Trần Ngọc Thêm, đồng thời phân tích các góc độ tiếp cận tâm lý học của Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Dương Thị Diệu Hoa, Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý. Chương 1 khẳng định sự thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về cơ chế ĐHGDGT của cha mẹ trong gia đình Việt Nam đương đại, tạo cơ sở cho việc triển khai đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về định hướng giáo dục giá trị cho trẻ em trong gia đình

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho luận án. Tác giả phân tích bản chất khái niệm "định hướng" từ góc độ tâm lý học hoạt động của P. Galperin, xác định định hướng gồm khâu mục đích và khâu nội dung. Khái niệm "giá trị" được phân tích từ góc độ triết học, xã hội học và tâm lý học; luận án làm rõ các mô hình phân loại giá trị của Milton Rokeach (giá trị đích và giá trị phương tiện) và mô hình 10 - 19 giá trị của Shalom H. Schwartz (các nhóm Tự nâng cao, Tự siêu việt, Bảo thủ, Cởi mở để thay đổi). Luận án phân tích khái niệm giáo dục giá trị, làm rõ ranh giới và mối liên hệ tương hỗ với giáo dục đạo đức, giáo dục tính cách, giáo dục công dân. Chương này cũng phân tích đặc điểm tâm lý học lứa tuổi THCS (11–15 tuổi) – giai đoạn khủng hoảng dậy thì, bước ngoặt hình thành tự ý thức, chuyển dịch nhu cầu giao tiếp từ gia đình sang nhóm bạn bè. Cấu trúc ĐHGDGT trong gia đình được định hình bởi 3 thành tố: (1) Xác định mục tiêu giáo dục; (2) Lựa chọn nội dung giá trị giáo dục; (3) Lựa chọn phương pháp giáo dục. Cuối cùng, tác giả phân tích 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ĐHGDGT.

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả thiết kế nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả giới thiệu khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội của quận Hoàn Kiếm (đại diện trung tâm kinh tế, văn hóa đô thị Hà Nội) và huyện Mê Linh (khu vực nông nghiệp đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ). Quy trình nghiên cứu được triển khai qua hai giai đoạn: nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn. Tác giả trình bày phương thức chọn mẫu khảo sát gồm 490 cha mẹ (245 cặp cha - mẹ) và 245 học sinh THCS tương ứng, đảm bảo các tiêu chí cấu trúc gia đình hoàn chỉnh. Bảng hỏi được chuẩn hóa dựa trên bảng giá trị của Schwartz; bảng mã hóa ký hiệu mẫu được phân định rõ ràng (phiếu 6_01A đến 9_33A cho Hoàn Kiếm; 6_01B đến 9_30B cho Mê Linh). Các kỹ thuật thu thập dữ liệu gồm bảng hỏi định lượng, phỏng vấn sâu cá nhân, nghiên cứu hai trường hợp điển hình và các công thức toán học thống kê mô tả, kiểm định tương quan, so sánh khác biệt giá trị trung bình.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về định hướng giáo dục giá trị cho trẻ em trong gia đình

Chương 4 trình bày các số liệu thực nghiệm thu thập được. Về thực trạng chung:

  • Mục tiêu giáo dục: Cha mẹ định hướng con trở thành người kính trọng bề trên, giữ gìn nền nếp truyền thống, tôn trọng pháp luật và an toàn; kế tiếp là người nhân ái, công bằng, sống có tình nghĩa; xếp cuối cùng là mục tiêu giàu sang, danh vọng và quyền lực chi phối.
  • Lựa chọn giá trị giáo dục: Nhóm giá trị Bảo thủ (truyền thống, tuân thủ, an toàn) và nhóm Tự siêu việt (công bằng, nhân ái, vị tha) chiếm ưu thế áp đảo; các giá trị thuộc nhóm Cởi mở để thay đổi (tự chủ suy nghĩ/hành động, kích thích mạo hiểm) và Tự nâng cao (quyền lực chi phối, kiểm soát vật chất) ít được cha mẹ lựa chọn truyền thụ cho con. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa cha mẹ ở nông thôn (Mê Linh) và thành thị (Hoàn Kiếm) cũng như theo trình độ nghề nghiệp trong việc ưu tiên các thang bậc giá trị.
  • Lựa chọn phương pháp giáo dục: Phương pháp làm gương, nêu gương và phân tích giải thích, khen thưởng được cha mẹ sử dụng nhiều nhất; các phương pháp áp đặt, trừng phạt ít được lựa chọn hơn. Có sự phân hóa rõ rệt trong lựa chọn phương pháp theo nhóm nghề nghiệp của cha mẹ.
  • Các yếu tố tác động: Phân tích hồi quy và tương quan chỉ rõ định hướng giá trị của bản thân cha mẹ có sức chi phối và dự báo mạnh mẽ nhất đối với việc xác định mục tiêu, lựa chọn giá trị và phương pháp giáo dục con, vượt trội hơn so với các yếu tố môi trường truyền thông hay sự thống nhất quan điểm gia đình.
  • Phân tích trường hợp điển hình: Khắc họa hai chân dung tâm lý đại diện: Trường hợp chị Th và con là em T phản ánh sự tương đồng giữa giá trị mẹ truyền đạt và giá trị con tiếp thu; trường hợp anh M và con là em Đ cho thấy sự lệch pha thế hệ giữa kỳ vọng giáo dục bảo thủ của người cha và xu hướng cởi mở, tự khẳng định của trẻ lứa tuổi THCS.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  1. Góp phần phát triển cơ sở khoa học và thực tiễn cho phân ngành Tâm lý học gia đình, Tâm lý học giáo dục và lý luận nghiên cứu định hướng giá trị tại Việt Nam.
  2. Hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết quốc tế và trong nước về giáo dục giá trị cho trẻ em; xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm công cụ: "định hướng", "giá trị", "giáo dục giá trị", và "định hướng giáo dục giá trị cho trẻ em trong gia đình".
  3. Vận dụng thành công mô hình cấu trúc giá trị của Shalom H. Schwartz để lượng hóa và phân tích hoạt động ĐHGDGT của cha mẹ người Việt đối với lứa tuổi vị thành niên.

Đóng góp mới về thực tiễn

  1. Làm rõ bức tranh thực trạng ĐHGDGT của các bậc phụ huynh tại Hà Nội:
    • Mục tiêu ưu tiên hàng đầu: Giáo dục con trở thành người kính trọng cha mẹ, người lớn tuổi, coi trọng truyền thống gia đình/nghi lễ văn hóa; khiêm nhường, tuân thủ kỷ cương pháp luật; giữ gìn an toàn cho bản thân và trật tự xã hội. Mục tiêu ưu tiên thứ hai: Hướng con thành người nhân ái, khoan dung, sống tình nghĩa, biết bảo vệ lẽ phải, công bằng bình đẳng và giữ gìn môi trường sống.
    • Nhóm giá trị lựa chọn nhiều nhất: Nhóm giá trị truyền thống, tuân thủ và an toàn; tiếp đến là công bằng, nhân ái và khoan dung.
    • Phương pháp giáo dục chủ đạo: Làm gương, nêu gương thực tế, khen thưởng động viên kịp thời kết hợp phân tích, giải thích bằng lý lẽ.
  2. Chứng minh bằng thực nghiệm rằng trong các yếu tố tác động từ gia đình và xã hội, định hướng giá trị của bản thân cha mẹ là yếu tố giữ vai trò quyết định, chi phối mạnh mẽ nhất đến toàn bộ quá trình ĐHGDGT cho con.
  3. Chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về lựa chọn nội dung và phương pháp giáo dục con theo địa bàn cư trú (nội thành Hoàn Kiếm đối chiếu ngoại thành Mê Linh) và nhóm nghề nghiệp của cha mẹ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cha mẹ: Cần nâng cao nhận thức về tâm lý lứa tuổi THCS; điều chỉnh định hướng giá trị theo hướng cân bằng giữa việc bảo tồn các giá trị truyền thống, tuân thủ kỷ cương với việc khuyến khích tính tự chủ, tư duy độc lập và sáng tạo ở trẻ; đổi mới phương pháp giáo dục bằng cách tăng cường đối thoại, thấu hiểu thay vì áp đặt kinh nghiệm một chiều.
  • Đối với nhà trường và xã hội: Cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong việc thống nhất thang giá trị giáo dục công dân; mở các lớp tập huấn kỹ năng làm cha mẹ; phát huy vai trò định hướng chuẩn mực của các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm hỗ trợ phụ huynh nâng cao năng lực định hướng nhân cách cho con em.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được ghi nhận từ phạm vi đề tài:
    • Khách thể khảo sát chỉ giới hạn ở nhóm học sinh THCS trong độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi và các bậc cha mẹ thuộc loại hình gia đình hoàn chỉnh (có đầy đủ cả cha và mẹ cùng chung sống). Luận án chưa khảo sát các mô hình gia đình khuyết thiếu (cha/mẹ đơn thân, trẻ sống với ông bà) hoặc các nhóm lứa tuổi khác như tiểu học hay trung học phổ thông.
    • Địa bàn khảo sát thực nghiệm tập trung tại hai khu vực thuộc thành phố Hà Nội (quận Hoàn Kiếm và huyện Mê Linh), do đó các kết luận chưa bao quát được toàn diện sự đa dạng văn hóa vùng miền trên phạm vi cả nước.
    • Nghiên cứu tập trung vào 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng cơ bản, chưa đi sâu phân tích tác động riêng lẻ của các nền tảng mạng xã hội và không gian số mới nổi đối với sự biến đổi giá trị của trẻ em.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu ĐHGDGT trên các lứa tuổi khác, đặc biệt là giai đoạn đầu tiểu học và học sinh THPT.
    • Mở rộng khảo sát tại các vùng kinh tế - xã hội khác nhau (vùng núi, duyên hải miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long) và trên các cấu trúc gia đình đa dạng (gia đình hạt nhân, gia đình đa thế hệ, gia đình đơn thân).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, đặc biệt là quy trình ứng dụng và chuẩn hóa khung lý thuyết giá trị của Shalom H. Schwartz trên khách thể người Việt Nam; quy trình kết hợp phương pháp định lượng bảng hỏi với phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp điển hình.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Cung cấp tư liệu chuyên khảo phong phú cho các học phần Tâm lý học gia đình, Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học giáo dục; làm rõ các số liệu thực tế về khoảng cách giá trị giữa hai thế hệ cha mẹ và con cái.
  • Đối với phụ huynh và giáo viên phổ thông: Giúp nhận diện rõ các điểm mạnh và điểm mù trong thực hành giáo dục gia đình, từ đó điều chỉnh phương pháp tác động, tránh việc áp đặt các giá trị quyền lực hoặc kiểm soát thái quá gây cản trở sự phát triển tính tự chủ của trẻ.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng các chương trình truyền thông về công tác gia đình, giáo dục kỹ năng làm cha mẹ, góp phần định hướng nhân cách cho thế hệ trẻ thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát trên nhóm khách thể nào và tại địa bàn nào?

Luận án tiến hành khảo sát thực nghiệm trên 490 cha mẹ (tương ứng 245 cặp vợ chồng) và 245 học sinh THCS trong độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi (học sinh các lớp 6, 7, 8, 9). Tất cả các gia đình tham gia đều thuộc loại hình gia đình đầy đủ (có cả cha và mẹ cùng chung sống). Địa bàn nghiên cứu là quận Hoàn Kiếm (đại diện cho khu vực đô thị) và huyện Mê Linh (đại diện cho khu vực nông thôn ngoại thành), thuộc thành phố Hà Nội.

2. Khung lý thuyết giá trị nào được luận án sử dụng làm công cụ khảo sát?

Luận án tiếp cận dựa trên lý thuyết giá trị của Shalom H. Schwartz (1992, 2006). Cụ thể, tác giả sử dụng thang đo 19 giá trị chi tiết phát triển từ 10 giá trị cốt lõi, được phân bố vào 4 nhóm định hướng lớn trên hai trục lưỡng cực: Tự nâng cao (Self-enhancement), Tự siêu việt (Self-transcendence), Bảo thủ (Conservatism), và Cởi mở để thay đổi (Openness to change).

3. Những mục tiêu và nhóm giá trị nào được cha mẹ ưu tiên lựa chọn nhiều nhất để giáo dục con?

Thực nghiệm cho thấy cha mẹ ưu tiên định hướng con tới hai nhóm mục tiêu chính:

  • Mục tiêu thứ nhất: Trở thành người kính trọng cha mẹ, người cao tuổi, giữ gìn truyền thống, tuân thủ kỷ cương xã hội và coi trọng sự an toàn, sức khỏe.
  • Mục tiêu thứ hai: Trở thành người nhân ái, khoan dung, sống tình nghĩa, coi trọng sự công bằng và bình đẳng xã hội. Tương ứng với các mục tiêu này, nhóm giá trị Bảo thủ (truyền thống, tuân thủ, an toàn) và nhóm giá trị Tự siêu việt (công bằng, nhân ái, vị tha) là những nhóm giá trị được cha mẹ lựa chọn nhiều nhất để truyền thụ cho con. Mục tiêu về quyền lực, danh vọng và giàu sang ít được lựa chọn nhất.

4. Phương pháp giáo dục nào được các bậc cha mẹ áp dụng chủ yếu?

Phương pháp giáo dục giá trị được phụ huynh lựa chọn nhiều nhất là phương pháp làm gương, nêu gương hành vi thực tế, tiếp theo là khen thưởng động viên và phân tích, giải thích bằng lời lẽ. Các biện pháp mang tính áp đặt cơ học hay trừng phạt có tần suất lựa chọn thấp hơn.

5. Yếu tố nào chi phối mạnh mẽ nhất đến việc định hướng giáo dục giá trị cho con trong gia đình?

Kết quả kiểm định thực nghiệm và phân tích tương quan/dự báo chỉ ra rằng định hướng giá trị của bản thân cha mẹ là yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến toàn bộ quá trình ĐHGDGT cho trẻ, chi phối trực tiếp việc xác định mục tiêu nhân cách, việc lựa chọn nhóm giá trị giáo dục cũng như phương pháp giáo dục con trong gia đình.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Quang Lâm là công trình khoa học chuyên ngành Tâm lý học nghiên cứu thực nghiệm toàn diện về vấn đề định hướng giáo dục giá trị cho trẻ em lứa tuổi THCS trong gia đình Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ khung lý thuyết giá trị của Schwartz và lý thuyết định hướng hành động của Galperin với hệ thống phương pháp điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp, tác giả đã làm rõ thực trạng ưu tiên các giá trị truyền thống, tuân thủ, nhân ái cùng các phương pháp nêu gương, giải thích của cha mẹ tại Hà Nội. Nghiên cứu khẳng định định hướng giá trị của cha mẹ là nhân tố chi phối mang tính quyết định, đồng thời cung cấp những căn cứ khoa học thực tiễn xác đáng phục vụ công tác giáo dục gia đình và định hình nhân cách thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay.