CHƯƠNG 1 KHUNG NGHIÊN CỨU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA ĐỊA PHƯƠNG 1. Tổng quan về cơ cấu ngành kinh tế địa phương 1. Phân loại ngành kinh tế địa phương Theo phân loại của ngành Thống kê Việt Nam, hệ thống tài khoản quốc gia, các ngành kinh tế được chia thành 3 nhóm ngành lớn là Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp - xây dựng và Dịch vụ. Theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, các ngành kinh tế được phân chia thành các ngành từ cấp 1 đến cấp 5, trong đó: - Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (ngành cấp 1), được chia thành 3 ngành cấp 2 là Nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ có liên quan; Lâm nghiệp và các hoạt động dịch vụ có liên quan; Khai thác và nuôi trồng thủy sản.
- Ngành Công nghiệp - Xây dựng, được chia thành Công nghiệp và Xây dựng, trong đó: Công nghiệp được chia thành 4 ngành cấp 1, gồm: Khai khoáng; Công nghiệp chế biến, chế tạo; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải; - Ngành Dịch vụ, được chia thành 15 ngành cấp 1, gồm: Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; Vận tải kho bãi; Dịch vụ lưu trú và ăn uống; Thông tin và Truyền thông; Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; Hoạt động kinh doanh bất động sản; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ; Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc; Giáo dục và đào tạo; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí; Hoạt động dịch vụ khác; Hoạt động làm thuê các công nghiệp trong các hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình; Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế. 4 Để thuận lợi cho việc nghiên cứu, tác giả phân ra làm 2 nhóm ngành lớn: SẢN XUẤT & DỊCH VỤ (1) NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NÔNG NGHIỆP & PHI NÔNG NGHIỆP (2) CÔNG NGHIỆP DỊCH VỤ 1. Cơ cấu ngành kinh tế địa phương 1. Khái niệm và nội hàm cơ cấu ngành kinh tế địa phương a.
Khái niệm Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Nội hàm cơ cấu ngành kinh tế địa phương Nội hàm của cơ cấu ngành kinh tế địa phương được xem xét trên các lĩnh vực sau: + Số ngành kinh tế địa phương: Như trình bày trên, nền kinh tế được chia làm 3 nhóm ngành lớn là: Nông, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp – Xây dựng; Dịch vụ. Theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, các ngành kinh tế được phân chia thành 21 ngành từ cấp 1, trong đó: Nông, lâm nghiệp và thủy sản là 1 ngành; Công nghiệp – Xây dựng gồm 5 ngành; Dịch vụ có 15 ngành.
Ngành cấp 2 được có 88 ngành, trong đó: Nông, lâm nghiệp và thủy sản là 3 ngành; Công nghiệp là 36 ngành; Xây dựng là 3 ngành; Dịch vụ là ó 15 ngành cấp 46 ngành. Ngành cấp 3 là 242 ngành, trong đó: Nông lâm nghiệp và thủy sản 13 ngành; Công nghiệp 91 ngành; Xây dựng 8 ngành; Dịch vụ 130 ngành. 5 Ngành cấp 4 là 437 ngành, trong đó: Nông lâm nghiệp và thủy sản 41 ngành; Công nghiệp 163 ngành; Xây dựng 11 ngành; Dịch vụ 222 ngành. Ngành cấp 5 là 642 ngành, trong đó: Nông lâm nghiệp và thủy sản 57 ngành; Công nghiệp 197 ngành; Xây dựng 13 ngành; Dịch vụ 375 ngành.
+ Tỷ trọng của mỗi ngành trong nền kinh tế địa phương: Tỷ trọng các ngành kinh tế được phân chia thành 3 loại chủ yếu sau: - Tỷ trọng các ngành theo kết quả sản xuất (về mặt giá trị theo giá hiện hành): Tỷ trọng các ngành được xác định trên 2 loại là giá trị sản xuất (GO) và Tổng sản phẩm trong nước (GDP). + Giá trị sản xuất (GO) phản ánh toàn bộ giá trị của sản phẩm vật chất (thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang) và dịch vụ sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định. Giá trị sản xuất bao gồm giá trị hàng hóa và dịch vụ sử dụng hết trong một quá trình sản xuất và giá trị mới tăng thêm trong quá trình sản xuất (gồm thu nhập của người lao động từ sản xuất, thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất và thặng dư sản xuất). + Tổng sản phẩm trong nước/Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP/ GRDP) phản ánh giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Tổng sản phẩm trong nước là khái niệm của giá trị tăng thêm - xét trên khía cạnh sản xuất - và bằng tổng giá trị tăng thêm của tất cả các đơn vị sản xuất thường trú trong lãnh thổ kinh tế của một quốc gia cộng với thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. - Tỷ trọng các ngành theo lao động, phản ánh số lao động làm việc trong các ngành kinh tế. - Tỷ trọng các ngành theo vốn đầu tư, phản ánh tỷ trọng vốn đầu tư phát triển hàng năm hoặc giai đoạn đầu tư vào các ngành kinh tế. Trong giới hạn của luận văn chỉ nghiên cứu cơ cấu ngành theo kết quả sản xuất, tính theo GO và GDP.
+ Vị trí các ngành kinh tế trong tổng thể nền kinh tế: Từ khái niệm trên, với cách tiếp cận này đã phản ánh bản chất của cơ cấu ngành kinh tế, thể hiện trên các khía cạnh: Trước hết, đó là tổng sản phẩm các ngành, các ngành kinh tế được hình thành. Số lượng ngành kinh tế không cố định, nó luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã hội. Đầu thế kỷ XIX, nhà khoa học Collin Class căn cứ vào tính chất chuyên môn hóa của sản xuất đã chia thành 3 nhóm ngành: khai thác tài nguyên 6 thiên nhiên (gồm nông nghiệp và khai thác khoáng sản); công nghiệp chế biến; sản xuất sản phẩm vô hình. Liên hợp quốc (UN) sau này, căn cứ vào tính chất của hoạt động sản xuất, đã chuyển hoạt động khai thác khoáng sản sang ngành công nghiệp và gọi ngành sản xuất sản phẩm vô hình là dịch vụ.
Nguyên tắc phân ngành xuất phát từ tính chất phân công lao động xã hội, biểu hiện cụ thể qua sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ. Các ngành kinh tế được chia thành ba khu vực hay gọi là ba ngành gộp: khu vực I bao gồm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp; khu vực II là các ngành công nghiệp và xây dựng; kh vực III gồm các ngành dịch vụ. Trong mỗi nhóm ngành lại bao gồm các ngành khác nhau, gọi là các ngành cấp I. Cơ cấu ngành kinh tế còn thể hiện ở mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành với nhau.
Mối quan hệ này bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng. Mặt số lượng được thể hiện ở tỷ trọng (tính theo GDP, lao động, vốn .) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, còn khía cạnh chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành và tính chất tác động qua lại giữa các ngành với nhau. Sự tác động qua lại giữa các ngành có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Tác động trực tiếp bao gồm tác động cùng chiều hoặc ngược chiều, còn mối quan hệ gián tiếp thể hiện qua các cấp I, II, III.
Nói chung, mối quan hệ giữa các ngành, cả về số lượng và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở nên phức tạp hơn theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế. Xét trên khía cạnh các bộ phận cấu thành phát triển kinh tế, thì cơ cấu ngành của nền kinh tế phản ánh mặt chất về mặt kinh tế của quá trình phát triển. Dạng cơ cấu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, vì nó phản ánh về cơ bản sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất. Dấu hiệu thuyết phục nhất để đánh giá và so sánh trình độ phát triển của các quốc gia hoặc quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế thường là dạng (trạng thái) cơ cấu ngành kinh tế mà mỗi quốc gia đạt được.
Đối với giai đoạn phát triển kinh tế truyền thống, dạng cơ cấu ngành chủ yếu là nông nghiệp; giai đoạn cất cánh, dang cơ cấu ngành là nông nghiệp - công nghiệp; giai đoạn cất cánh là nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ; giai đoạn trưởng thành là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp; giai đoạn tiêu dùng cao là dịch vụ - công nghiệp. Cơ cấu ngành kinh tế hợp lý của một địa phương: Muốn xác định cơ cấu ngành kinh tế hợp lý phải căn cứ vào các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị ở trong địa phương và chính sách đối ngoại 7 của địa phương. Một cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế thích ứng nhất với các điều kiện cụ thể của địa phương và đem lại hiệu quả nhất định. Nhìn chung một cơ cấu ngành kinh tế đạt được hiệu quả phải tạo ra sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế.