Thực thi pháp luật về định giá Quyền sử dụng đất làm tài sản bảo đảm cho vay

Tìm hiểu quy định pháp luật và thực trạng định giá quyền sử dụng đất làm tài sản bảo đảm cho vay tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng hiện nay.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Tác giả

Nguyen Thanh Tung

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

82
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của định giá quyền sử dụng đất

Định giá quyền sử dụng đất là quá trình xác định giá trị thị trường của quyền sử dụng đất để sử dụng làm tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng. Đây là một công việc cốt lõi trong quản lý rủi ro tín dụng, giúp ngân hàng xác định khả năng bao phủ nợ của khách hàng vay. Định giá tài sản bảo đảm chính xác không chỉ bảo vệ lợi ích của tổ chức cho vay mà còn đảm bảo quyền lợi của người vay. Tầm quan trọng của định giá quyền sử dụng đất thế chấp nằm ở việc ngăn ngừa rủi ro tín dụng, hạn chế tổn thất khi xảy ra mặc định thanh toán, và tạo nền tảng vững chắc cho quyết định cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng.

1.1. Định nghĩa quyền sử dụng đất trong pháp luật Việt Nam

Theo Luật Đất đai, quyền sử dụng đất là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật công nhận, bảo vệ để sử dụng đất vào những mục đích nhất định trong thời gian quy định. Quyền này có thể được chuyển nhượng, thế chấp, cho thuê và thừa kế. Thế chấp quyền sử dụng đất trong cho vay là một hình thức bảo đảm phổ biến nhất tại các tổ chức tín dụng Việt Nam.

1.2. Vai trò của định giá trong hoạt động cho vay

Định giá tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất giúp các tổ chức tín dụng xác định mức tín dụng phù hợp, giảm thiểu rủi ro mất vốn. Định giá chính xác là cơ sở để quyết định lãi suất vay, kỳ hạn thanh toán, và các điều kiện khác. Nó cũng là yếu tố quan trọng trong báo cáo tài chính và quản lý rủi ro của tổ chức tín dụng.

II. Khung pháp luật và quy định về định giá quyền sử dụng đất

Hệ thống pháp luật Việt Nam về định giá tài sản bảo đảm bao gồm các văn bản của Luật ngân hàng, Luật đất đai, và các thông tư hướng dẫn chi tiết từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Định giá quyền sử dụng đất phải tuân thủ các nguyên tắc chung như xác định giá trị thị trường, sử dụng đa phương pháp định giá, và có sự xác nhận từ các cơ quan chức năng. Các tổ chức tín dụng phải tuân theo các quy định về tiêu chuẩn và trình quy trình định giá, đảm bảo tính độc lập, khách quan của người định giá. Pháp luật định giá bất động sản liên tục được cải tiến để phù hợp với tình hình thị trường và nhu cầu thực tế của các tổ chức tín dụng và khách hàng vay.

2.1. Các văn bản pháp luật liên quan đến định giá tài sản bảo đảm

Luật Ngân hàng, Luật Đất đai, Luật Giao dịch Bảo đảm là các văn bản cơ sở. Thông tư của Ngân hàng Nhà nước quy định chi tiết về định giá tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, bao gồm các tiêu chuẩn, phương pháp định giá, và quyền trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình định giá.

2.2. Tiêu chuẩn và quy trình định giá theo quy định pháp luật

Định giá quyền sử dụng đất thế chấp phải được thực hiện bởi những người có chứng chỉ định giá và tuân thủ quy trình chuẩn. Quy trình bao gồm: khảo sát thực địa, thu thập thông tin thị trường, phân tích dữ liệu, áp dụng phương pháp định giá phù hợp, và lập báo cáo định giá chi tiết. Giá trị tài sản bảo đảm phải được xác định dựa trên nguyên tắc khách quan, độc lập.

III. Phương pháp định giá quyền sử dụng đất thực hành tại các tổ chức tín dụng

Các tổ chức tín dụng áp dụng nhiều phương pháp định giá quyền sử dụng đất khác nhau để đạt kết quả chính xác nhất. Định giá tài sản bảo đảm tại các ngân hàng thường sử dụng kết hợp ba phương pháp chính: phương pháp so sánh với giá thị trường, phương pháp chiếm dụng thu nhập, và phương pháp giá trị còn lại. Lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào loại đất, mục đích sử dụng, tình trạng thị trường, và tính chất của từng dự án vay. Định giá quyền sử dụng đất thế chấp đòi hỏi sự hiểu biết sâu về thị trường bất động sản địa phương, các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị đất, và khả năng áp dụng công nghệ, phần mềm hỗ trợ định giá. Hiện nay, các tổ chức tín dụng ngày càng chú trọng sử dụng dữ liệu lớn và phân tích thông tin để cải thiện độ chính xác của định giá tài sản bảo đảm.

3.1. Phương pháp so sánh giá thị trường

Phương pháp này căn cứ vào giá bán các khoảnh đất tương tự trên thị trường để định giá quyền sử dụng đất. Người định giá cần thu thập dữ liệu giao dịch từ các nguồn đáng tin cậy, so sánh các đặc điểm của các bất động sản tương tự với tài sản bảo đảm đang được định giá, rồi điều chỉnh để có được giá tham chiếu. Đây là phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất trong định giá quyền sử dụng đất thế chấp tại các tổ chức tín dụng.

3.2. Phương pháp chiếm dụng thu nhập

Phương pháp này tập trung vào khả năng tạo ra dòng tiền từ quyền sử dụng đất trong tương lai. Định giá tài sản bảo đảm dựa trên tổng giá trị hiện tại của các khoản thu nhập kỳ vọng được chiết khấu về thời điểm định giá. Phương pháp này thường được áp dụng cho các dự án đầu tư hoặc nhà đất cho thuê.

IV. Thách thức và giải pháp trong định giá quyền sử dụng đất làm bảo đảm

Quá trình định giá tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất hiện nay gặp nhiều khó khăn cả về lý thuyết lẫn thực hành. Những vấn đề chính bao gồm: thiếu hụt dữ liệu thị trường đầy đủ, sự biến động không dự đoán được của giá bất động sản, khó khăn trong xác định giá trị các quyền sử dụng đất có thời hạn khác nhau, và không nhất quán giữa các tổ chức tín dụng trong tiêu chuẩn định giá quyền sử dụng đất. Để khắc phục, cần thiết phải hoàn thiện khung pháp luật, xây dựng cơ sở dữ liệu giá bất động sản toàn quốc, nâng cao chất lượng đội ngũ người định giá, và tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định về định giá tài sản bảo đảm trong các tổ chức tín dụng.

4.1. Các thách thức hiện tại trong định giá quyền sử dụng đất

Định giá quyền sử dụng đất thế chấp gặp khó khăn do: (1) Thông tin giá thị trường không đầy đủ, đặc biệt ở các khu vực không phải thành phố lớn; (2) Sự biến động không ổn định của thị trường bất động sản; (3) Khó xác định phí và chi phí liên quan đến quyền sử dụng đất; (4) Sự khác biệt về độc lập giữa các người định giá. Những vấn đề này ảnh hưởng đến tính chính xác và độ tin cậy của định giá tài sản bảo đảm.

4.2. Các giải pháp cải tiến và hoàn thiện

Giải pháp bao gồm: (1) Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu giá bất động sản tập trung; (2) Hoàn thiện các tiêu chuẩn định giá quyền sử dụng đất và quy trình thực hiện; (3) Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho người định giá; (4) Ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo vào định giá tài sản bảo đảm; (5) Tăng cường giám sát, kiểm tra của các cơ quan chức năng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/12/2025
Thực thi pháp luật về định giá tài sản bảo đảm làquyền sử dụng đất trong hoạt động cho vay củatổ chức tín dụng đối với khách hàng

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo thì bài luận có kết cấu 3 chương với những nội dung nghiên cứu như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thực thi pháp luật định giá tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất trong giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Chƣơng 2: Quy định pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật định giá tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất trong giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Chƣơng 3: Hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về định giá tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất trong giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN BẢO ĐẢM LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIAO DỊCH CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG 1.

Khái quát chung về định giá tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất trong giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng 1. Tổng quan về quyền sử dụng đất và tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất 1. Quyền sử dụng đất Trong khoa học pháp lý, QSDĐ hệ quả từ việc ghi nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, là "một quyền được tách ra từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai"1, là một tài sản và cũng là hàng hoá trên thị trường BĐS và gắn liền với người sử dụng đất và đến nay, nội hàm khái niệm QSDĐ vẫn còn những tranh luận2. Nguyễn Thị Thuỳ Trang (2016) khái quát ba quan niệm phổ biến về QSDĐ, bao gồm: "i) QSDĐ là một trong những nội dung của quyền sở hữu; ii) QSDĐ là vật quyền; iii) QSDĐ là tài sản, đồng thời phân tích ưu và nhược điểm của từng quan niệm về QSDĐ ở cả khía cạnh lý luận pháp luật cũng như luật thực định Việt Nam".

Tác giả Uông Chu Lưu (2014) giải thích "QSDĐ trên thực tế đã trở thành một loại quyền có tính độc lập tương đối so với quyền sở hữu hay có thể gọi là một quyền sở hữu hạn chế, nhưng trong các quy định pháp luật vẫn chưa làm rõ được bản chất của loại quyền này". Về bản chất, QSDĐ là một loại tài sản đặc biệt được “tách rời” một cách tương đối độc lập khỏi quyền sở hữu đất đai của Nhà nước để có thể đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường. Cho nên, QSDĐ khi đã được trao cho người sử dụng đất sẽ trở thành “quyền sở hữu thực tế” cần được phải bảo hộ3. Nguyễn Thành Luân (2018) cho rằng quan niệm 1 Lê Hồng Hạnh (2017), “Bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ISSN: 9366-7535, tr.

2 Nguyễn Thành Luân, Bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất ở Việt Nam, Địa chỉ: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xay- dung-phat-luat/ban-chat-phap-ly-cua-quyen-su-dung-dat-o-viet-nam, [truy cập ngày 02/03/2021]. 3 Lưu Quốc Thái, Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai theo hiến pháp 1992 và các vấn đề đặt ra, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17(249), tháng 9/2013, tr. 10 “QSDĐ là nội dung được tách ra từ sở hữu toàn dân” hoặc “quan niệm QSDĐ là một loại quyền tài sản đơn thuần” sẽ không cho phép làm rõ lên mối quan hệ giữa QSDĐ với quyền sở hữu toàn dân về đất đai, hạn chế trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể người QSDĐ từ đó đề xuất nên coi QSDĐ là một vật quyền hạn chế là do QSDĐ là quyền phái sinh, phụ thuộc và không vĩnh viễn từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai". Lưu Quốc Thái (2013) cho rằng, "nếu xét ở góc độ là quyền sử dụng tài sản, hiểu theo nghĩa thông thường, chỉ là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đất đai là chưa đủ, bởi lẽ, QSDĐ còn bao hàm cả việc người sử dụng đất được quyền thực hiện các giao dịch về QSDĐ (gồm chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, tặng cho, góp vốn) của mình như là những giao dịch về tài sản".

Theo Nguyễn Ngọc Điện (2023), việc xác định nội dung của QSDĐ "tùy thuộc vào chính sách của Nhà nước có liên quan đến sở hữu tư nhân, kinh tế thị trường và khai thác đất. Không giống như người có quyền sở hữu đất ở các nước, người có QSDĐ trong luật Việt Nam chỉ có được những quyền năng đối với đất được Nhà nước, với tư cách đại diện chủ sở hữu đất, trao cho tùy theo đặc điểm của từng loại đất. Điều này dẫn đến hệ quả lâu nay, người soạn thảo Luật Đất đai thực hiện việc xác định nội dung QSDĐ theo chủ trương người sử dụng đất chỉ có quyền làm những gì pháp luật cho phép". Trong Luật Đất đai đầu tiên được ban hành năm 1987, QSDĐ không có giá trị tài sản và không thể được chuyển nhượng.

Theo thời gian, người làm luật dần dần trao cho người sử dụng đất các quyền cho phép khai thác giá trị kinh tế của đất, bao gồm quyền chuyển nhượng QSDĐ. Được coi là một tài sản từ khi có Luật Đất đai năm 1993, QSDĐ được định dạng theo Luật Đất đai và người sử dụng đất chỉ thực hiện các quyền được Luật Đất đai thừa nhận. Chính vì cách làm đó mới có câu chuyện xôn xao kéo dài nhiều năm liên quan đến cái gọi là quyền bảo lãnh bằng QSDĐ, một quyền đặc biệt do Luật Đất đai năm 2003 tạo ra và không tương thích với bất kỳ chế định nào trong Bộ luật Dân sự. Người dân gặp nhiều rắc rối, khó khăn, thậm chí thiệt hại oan uổng khi xác lập, thực hiện các 11 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bằng QSDĐ mà sử dụng các thuật ngữ của luật dân sự thay vì của luật đất đai để mô tả giao dịch liên quan4.

Tác giả Luận văn đồng ý với quan điểm " QSDĐ là thuật ngữ dùng để chỉ một loại tài sản, được xác lập dựa trên quyết định giao đất, hoặc hợp đồng cho thuê QSDĐ của Nhà nước và sự chuyển dịch QSDĐ giữa những người sử dụng đất với nhau làm cơ sở cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của họ và bị chi phối bởi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai cũng như chế độ pháp lý đối với từng loại đất và từng người/nhóm người sử dụng đất. Trong bối cảnh và điều kiện Việt Nam, tính khan hiếm cũng như tạo lập giá trị QSDĐ còn phụ thuộc vào quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất ở cấp độ quốc gia cũng như của từng địa phương. Điều này lý giải vì sao giá đất của mỗi địa phương có sự khác biệt về giá cả cũng như mức độ thanh khoản"5. Tác giả Nguyễn Ngọc Điện (2023) có lý khi đề nghị " QSDĐ nên được thiết lập như giải pháp dung hoà giữa quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai và quyền tiếp cận đất của người dân trong khuôn khổ thực hiện sinh kế.

Được triển khai trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, quyền sử dụng đất, được hiểu là kết quả của việc Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất đối với chủ thể tư, cần được nhìn nhận như một tài sản đích thực mà chủ thể sử dụng đất có thể khai thác như bất kỳ tài sản nào khác". Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất Tài sản mà Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định là "vật, tiền, giấy tờ có giá, và các quyền tài sản, có thể là BĐS và động sản, có thể là tài sản hiện có, và tài sản hình thành trong tương lai"6. QSDĐ gắn liền với quyền của người sử dụng đất. Đây là cơ sở để xác định các quyền năng chung của người sử dụng đất đều do pháp luật quy định như được trao giấy chứng nhận QSDĐ; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp đối với đất đai của mình và những quyền năng riêng của QSDĐ phụ 4 Viên Thế Giang (2017), “Bất cập trong các quy định pháp luật về lựa chọn biện pháp bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng”, Tạp chí Luật học, ISSN: 0868-3522, tr.

5 Viên Thế Giang (2023), Bảo đảm tiền vay bằng quyền sử dụng đất trong giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh. 6 Điều 105, Bộ luật Dân sự năm 2015.

12 thuộc vào loại đất cụ thể và hình thức làm phát sinh QSDĐ như chuyển đổi, cho thuê lại, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn QSDĐ, thế chấp… Để được cho vay, khách hàng luôn bảo đảm điều kiện “có năng lực tài chính” để đáp ứng món nợ. Một trong những cơ sở để chứng minh khả năng tài chính để trả nợ là dùng biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ nợ. Thông thường, TCTD thường nhận bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản của người đi vay hoặc của bên thứ ba. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản sử dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bao gồm: "1.

Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm; 2. Tài sản bán trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu; 3. Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm đối với biện pháp cầm giữ; 4. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định"7.

Việc dùng QSDĐ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể không đồng thời với tài sản gắn liền với đất8, dùng tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể không đồng thời với QSDĐ. Cần lưu ý các trường hợp9: "- Tài sản gắn liền với đất là tài sản mà pháp luật không quy định phải đăng ký, và cũng chưa được đăng ký theo yêu cầu mà chủ sở hữu và bên nhận bảo đảm thỏa thuận dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì quyền, nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm. 7 Điều 8, Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ