Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH 1. Khái quát về du lịch và hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch Khoa học phát triển luôn phải gắn liền với việc xây dựng hệ thống các khái niệm. Bởi lẽ, khái niệm vừa là kết quả của tư duy khoa học vừa là phương tiện để để tư duy. Do đó khi nghiên cứu pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch chúng ta phải hiểu về những khái niệm cơ bản được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong du lịch.
Khái niệm về du lịch Từ giữa thế kỉ XIX, du lịch phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến, một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội của các quốc gia. Đối với các nước đang phát triển du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của các quốc gia. Trước thực tế phát triển của du lịch, việc nghiên cứu thảo luận để đi đến thống nhất một số khái niệm cơ bản về du lịch, trong đó khái niệm về du lịch là một đòi hỏi cần thiết. Thuật ngữ “du lịch” được bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi vòng quanh, là cuộc dạo chơi, còn “ touriste” là người dạo chơi.
Trong tiếng Anh “to tour” có nghĩa là đi dã ngoại đến một nơi nào đó. Mặt khác, theo nhà sử học Trần Quốc Vượng “du lịch” là từ Hán-Việt, có thể coi là từ ghép giữa “du” là đi chơi với “lịch” là sự lịch lãm, hiểu biết. Có quan niệm cho rằng, du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa[37]. Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa–Canada (6/1991) đã đưa ra định nghĩa:“Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian nhất định, mục đích của chuyến 7 đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”[11].
Từ cách tiếp cận các khái niệm trên, các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch gồm: - Khách du lịch; - Các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch; - Chính quyền sở tại; - Cộng đồng dân cư địa phương; Xem xét dưới khía cạnh kinh tế theo như đánh giá của Trường Tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie: “Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội được lặp đi lặp lại đều đặn chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ và hàng hóa của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập - đó là các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kĩ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự đi lại, lưu trú, ăn uống nghỉ ngơi với mục đích thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí (thuộc các nhu cầu về văn hóa, chính trị, kinh tế…) mà không có mục đích lao động kiếm lời”[11]. Như vậy, khái niệm du lịch theo quy định của Việt Nam có phạm vi khá hẹp, với bốn mục đích chính là tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng. Luật Du lịch do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2017 đưa ra định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 như sau:“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”[27]. Từ các khái niệm trên tác giả cho rằng có rất nhiều khái niệm về du lịch và đều được định nghĩa theo nghĩa rộng, không phải tất cả các hoạt động đi lại khỏi nơi cư trú đều là du lịch, việc du lịch được giới hạn lại bởi không gian, thời gian, mục đích như tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng ở nơi khác, có thời gian cụ thể, khi hết thời gian này thì chủ thể tham gia du lịch sẽ trở lại nơi xuất phát bán đầu (nơi thường trú).
Các hoạt động như đi xa vì công việc, đi chữa bệnh, đi du học. đều 8 không phải là du lịch. Khái niệm du lịch theo quy định của pháp luật của Việt Nam được giới hạn hẹp hơn với 4 mục đích chính là tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng. Hay nói cách khác du lịch phát sinh từ nhu cầu của người đi, thực hiện sự di chuyển ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, từ nơi này đến nơi khác bằng bất kỳ phương tiện nào với mục đích tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng có thời gian cụ thể và có sự trở về nơi xuất phát ban đầu.
Nhận diện kinh doanh dịch vụ du lịch 1. Khái niệm Trước khi tìm hiểu về hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, có thể thấy “kinh doanh” là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống kinh tế của các nước trên Thế giới cũng như ở Việt Nam. Khái niệm “kinh doanh” chính thức đã được pháp luật Việt Nam sử dụng từ năm 1990 trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Đến năm 1999, khái niệm “kinh doanh” một lần nữa được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp như sau: “Kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”[19].
Luật Doanh nghiệp 2014 đưa ra khái niệm cụ thể hơn về kinh doanh như sau:“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”[25]. Theo đó, kinh doanh bao hàm cả các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa, các hoạt động sản xuất, gia công, đầu tư hay các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi. Cách hiểu này khá tương đồng với khái niệm thương mại được nêu ra trong Luật Thương mại sửa đổi năm 2005 khi quy định hoạt động thương mại “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[22]. Như vậy, hiện nay khái niệm kinh doanh được hiểu như là hoạt động thương mại theo nghĩa rộng.
Vào những thế kỉ trước, người ta chỉ quan niệm hoạt động du lịch là một hoạt động mang tính chất văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí, hiểu biết của con người, hoạt động du lịch vốn không được coi là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít được đầu tư phát triển. Ngày nay, du lịch được xem là một ngành 9 kinh tế tổng hợp quan trọng, bao gồm các hoạt động khá đa dạng từ dịch vụ phòng nghỉ, ăn uống, mua bán đồ lưu niệm, hàng hóa,… các dịch vụ này được gọi chung là hoạt động du lịch. Trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch tại Việt Nam trong thời gian nhiều năm trở lại đây, Luật Du lịch 2017 đã định nghĩa hoạt động du lịch “là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên qua đến du lịch”[27]. Hoạt động của khách du lịch nghĩa là việc di chuyển và lưu trú tạm thời của người đi du lịch đến một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ để tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật…Các tổ chức cá nhân kinh doanh du lịch là những người tổ chức lưu trú, ăn uống, hướng dẫn tham quan, vận chuyển đưa đón du khách, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ khác… nhằm mục tiêu sinh lợi; Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh việc phát triển ngành du lịch thì cũng kéo theo các loại hình dịch vụ liên quan.
Theo định nghĩa của ISO 9001:1991 dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Dịch vụ có thể được tiến hành nhưng không gắn liền với sản phẩm vật chất [11]. Theo Điều 38, Luật Du lịch năm 2005 quy định kinh doanh du lịch là kinh doanh dịch vụ bao gồm các ngành, nghề sau đây: - “Kinh doanh lữ hành; - Kinh doanh lưu trú du lịch; - Kinh doanh vận chuyển khách du lịch; - Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch; - Kinh doanh dịch vụ du lịch khác”. Khi Luật Du lịch 2017 được ban hành và có hiệu lực 01/01/2018 thì không còn riêng một điều luật quy định cụ thể các hình thức kinh doanh dịch vụ du lịch thay vào đó tại Chương V Luật Du lịch 2017 có quy định các mục về từng hình thức kinh doanh du lịch bao gồm: (1) Kinh doanh dịch vụ lữ hành (2) Kinh doanh vẫn tải khách du lịch 10 (3) Kinh doanh lưu trú du lịch (4) Kinh doanh dịch vụ du lịch khác (như dịch vụ ăn uống, dịch vụ mua sắm, dịch vụ thể thao, dịch vụ vui chơi, giải trí, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch).
Căn cứ vào chức năng, tính chất hoạt động, ngành nghề (2),(3),(4) được xếp vào nhóm các nhà cung ứng dịch vụ du lịch, còn (1) được xếp vào nhóm nhà phân phối sản phẩm du lịch. Như vậy, có thể hiểu các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch bao gồm các hình thức sau: Thứ nhất, dịch vụ lữ hành Dịch vụ lữ hành gồm các hoạt động chính như: “Làm nhiệm vụ giao dịch kí kết với các tổ chức kinh doanh du lịch trong nước, nước ngoài để xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch”[11].