Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG 1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống 1. Khái quát về điều kiện kinh doanh 1. Khái niệm điều kiện kinh doanh Giấy phép kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện hoặc điều kiện kinh doanh là những khái niệm được đưa ra bàn thảo sôi nổi trong suốt gần 20 năm qua.
Tại “Tọa đàm trao đổi về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong Luật Đầu tư năm 2014, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 04 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư và các Luật chuyên ngành” do Ban Quản lý Chương trình 585 phối hợp với Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp tổ chức ngày 27/9/2017, ông Phan Đức Hiếu- Phó Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, bản thân khái niệm về “điều kiện đầu tư, kinh doanh” ở Việt Nam rất mơ hồ và phức tạp. Ngay khái niệm về “ngành nghề kinh doanh” và “ngành nghề kinh doanh có điều kiện” cũng đã có sự khác biệt về tiêu chí, cách phân loại và mục tiêu gây khó khăn cho doanh nghiệp khi hiểu và áp dụng. Nguyễn Am Hiểu-Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, khái niệm “điều kiện đầu tư, kinh doanh” là khái niệm “bị đánh tráo”. Bản chất của khái niệm này là Nhà nước can thiệp vào các hoạt động kinh doanh như thế nào cho hợp lý.
Trong phát triển kinh tế thị trường, chúng ta cần nhận diện đúng và can thiệp một cách hợp lý đối với từng hoạt động cụ thể trên cơ sở đặc thù của từng hoạt động. Năm 1999, Luật Doanh nghiệp đã có quy định đầu tiên nhằm xóa bỏ tư 10 duy “người dân được làm gì Nhà nước cho phép” bằng tư duy “người dân được làm gì mà pháp luật không cấm”. Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã quy định danh mục loại trừ về các ngành, nghề kinh doanh. Luật căn cứ vào mức độ quyền tự do kinh doanh, phân chia ngành, nghề kinh doanh thành 3 loại: Ngành, nghề cấm kinh doanh; Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và ngành, nghề khác (còn lại) được gọi là “tự do” kinh doanh.
Đồng thời, Luật cũng hạn chế sự tùy tiện ban hành quy định về điều kiện kinh doanh của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp. Theo Luật Doanh nghiệp 1999, chỉ có 3 cơ quan bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội và Chính phủ mới có thẩm quyền quy định ngành, nghề cấm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề đó. Hiện nay, điều kiện kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại nhiều văn bản khác nhau. Trong đó, trọng tâm nhất là hai đạo luật cơ bản gồm Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015) sau khi được Quốc hội thông qua được đánh giá có nhiều điểm mới mang tính đột phá, đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của luật cũ, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều 9 Nghị định 118/2015 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư quy định điều kiện đầu tư kinh doanh được áp dụng theo một hoặc một số hình thức sau đây: Giấy phép; Giấy chứng nhận đủ điều kiện; Chứng chỉ hành nghề; Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; Văn bản xác nhận… Trước khi Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 ban hành, Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện đã chia ngành nghề kinh doanh thành ba 11 nhóm để thực hiện quản lí với ba danh mục là danh mục ngành nghề cấm kinh doanh, danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện và danh mục ngành nghề hạn chế kinh doanh. Thực tiễn thi hành cho thấy, việc phân chia riêng biệt ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và ngành, nghề hạn chế kinh doanh là không cần thiết, bởi cả hai nhóm ngành này đều phải đáp ứng những điều kiện kinh doanh nhất định khi thực hiện và việc hạn chế kinh doanh được tiến hành thông qua các điều kiện kinh doanh cần đáp ứng. Để phù hợp hơn về lí luận cũng như thực tiễn, Luật Đầu tư năm 2014 chỉ quy định hai nhóm: ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Ở mức độ khái quát, có thể coi đây là điểm đổi mới đầu tiên liên quan đến quy định về ngành, nghề kinh doanh. Việc ban hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014 phần nào thể hiện quyết tâm mới của Quốc hội và Chính phủ trong cải thiện quy định về điều kiện kinh doanh. Pháp luật hiện hành không quy định khái niệm về điều kiện kinh doanh mà chỉ quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 thì ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lí do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Theo khái niệm trên, điều kiện kinh doanh là những tiêu chuẩn đòi hỏi người kinh doanh phải đáp ứng trong quá trình hoạt động với sự giám sát, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, sức khoẻ cộng đồng. Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải đáp ứng hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm 12 nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác. Điều kiện kinh doanh được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Từ đó, rút ra khái niệm về điều kiện kinh doanh như sau: Điều kiện kinh doanh là những tiêu chuẩn đòi hỏi người kinh doanh phải đáp ứng trong quá trình hoạt động với sự giám sát, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, sức khoẻ cộng đồng.
Phân loại điều kiện kinh doanh Điều kiện kinh doanh gồm hai loại: + Loại điều kiện kinh doanh cần được xác nhận bằng văn bản: giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, giấy phép kinh doanh. Văn bản xác nhận đủ điều kiện kinh doanh do cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành cấp như: giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự do cơ quan công an cấp, chứng chỉ hành nghề kiểm toán viên do Bộ tài chính cấp., giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm do Bộ Y tế cấp. + Loại điều kiện kinh doanh do doanh nghiệp tự cam kết, tự đảm bảo thực hiện các điều kiện pháp luật quy định trong quá trình hoạt động kinh doanh. Theo thông cáo báo chí của Văn phòng Chính phủ ngày 19/8/2014: Thường trực Chính phủ họp về báo cáo rà soát ngành nghề cấm kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, trước đây, mặc dù Nghị định số 59/2006/NĐ-CP có quy định về danh mục hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện nhưng bên cạnh đó, ngành nghề kinh doanh và điều kiện kinh doanh còn được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau với 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại 391 văn bản gồm: 56 luật, 08 pháp lệnh, 115 nghị định, 08 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 176 thông tư, 26 13 quyết định của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và 2 văn bản của bộ.
Các điều kiện kinh doanh được thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức như giấp phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký. Phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy định dưới hình thức giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, bao gồm: 110 ngành nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy phép kinh doanh; 83 ngành nghề yêu cầu phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứng nhận; 44 loại ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng chỉ hành nghề; 11 ngành nghề yêu cầu vốn pháp định và 345 ngành nghề yêu cầu phải có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thực tế cho thấy đây là loại điều kiện kinh doanh dễ phát sinh tiêu cực trong quá trình xin cấp phép, cấp chứng nhận. Sau khi bãi bỏ hàng ngàn giấy phép con, góp phần cởi trói cho doanh nghiệp và tạo môi trường kinh doanh thông thoáng cho doanh nghiệp, Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định trong Luật Đầu tư năm 2014 gồm 267 ngành nghề, giảm 119 ngành nghề trong tổng số 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện tính đến ngày 19/8/2014.
Năm 2016 Luật Đầu tư năm 2014 sửa đổi, bổ sung đã thay thế danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại phụ lục 4 Luật Đầu tư 2014. Theo đó, từ ngày 01/01/2017, danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện chỉ còn 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 được tổ chức vào ngày 3/8/2017, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam báo cáo, đầu năm 2017, trong 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện kể trên, hiện có tổng số 5.719 điều kiện kinh doanh (thường được gọi là giấy phép con) trong số 15 ngành được thống kê. Trong đó, nhiều nhất là Bộ Công Thương có 27 ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi quản lý với 1.220 điều kiện kinh doanh, Bộ Giao thông, vận tải 14 có 517 điều kiện kinh doanh.
Ngành nghề đầu tư kinh doanh dịch vụ ăn uống Điều 2 Luật An toàn thực phẩm 2010 chỉ phân loại dịch vụ ăn uống thành hai loại là: Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và thức ăn đường phố. + Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở chế biến thức ăn bao gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín, nhà hàng ăn uống, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng-tin và bếp ăn tập thể.