Chương 1. Một số van dé ly luận về điêu kiện có hiệu lực của hợp đồng. Thực trạng pháp luật về điều kiên có hiệu lực của hợp đồng, Chương 3. Thực trang áp dung và một số kiên nghị hoàn thiên phép luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
9 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUẬN VE DIEU KIEN CÓ HIỆU LUC CUA HOP DONG 1. Khái niệm, đặc điềm của điều kiện có hiệu lực của hợp đồng 1. Khái niém điền ign có hiệu hee cha hợp đồng Để tên tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tô chức phải tham gia nhiêu muối quan hệ xã hội khác nhau. Trong đó, các chủ thê thiết lập với nhau những quan hệ với nhau nhằm tham gia các giao dich nhat định: qua việc trao đổi, chuyên giao các lợi ích vật chất nhằm đáp ung các nlxu cau chính đáng của mình như nhu câu sinh hoạt, tiêu dang đóng mat vai trò quan trọng và là tất yêu đối với moi đời sóng xã hội.
Tuy nhién việc trao đổi lợi ich trong xã hội chỉ được hình thành dựa trên việc thể hiện và thông nhật ý chí giữa các ban!. Quan hệ đó được là hợp đông Khi xuất hiện khái niém “hợp đồng” cũng là lúc xuất liện khái niệm “hợp đồng có hiệu lực”. Pháp luật các nước đều công nhận “Các thôa thuận được hình thành có hợp pháp là bắt buộc đối với người làm nên né”?. Chi những hợp đồng nói riêng và giao dich dân sự nói chung mà hợp pháp mới làm phát sinh quyên, ngÌữa vụ của chủ thể tham gia giao dịch.
Khi hợp đồng được công nhận thi sẽ có hiệu lực pháp luật đối với các bên Đặc biệt, hợp đồng chỉ có ý ngiĩa khi có hiệu lực, tức là các quyên va ngiữa vu của các bên theo hợp đồng được công nhận và có gá trị rang buộc các bên Dé hop đông được công nhận, pháp luật về hợp đông da dat ra những điều kiện có hiệu lực của hợp đông dé làm tiền dé xác đính giá trị pháp ly của hợp đông, Hoặc có thé nói, hợp đông hợp pháp sẽ phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hop đồng Hay nói cách khác, điều kiện có hiệu lực của hợp đông là “công cự” dé một hop đông trở nên hợp pháp và yêu tô để xác định giá trị pháp lý của hợp đông, Điều này sẽ dẫn đền, moi cam kết, thöa thuận hợp pháp co hiệu lực bắt buộc đối với các bên chủ thé và được phép luật bảo hộ. Do vậy, khi xây dung pháp luật về hợp đông, phép luật các quốc gia đều quan tâm đền van đề điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dé dam bảo quyên va lợi ích hợp pháp của các bên va ôn định sự lưu thông và trật tu của các quan hệ xã hôi. * Trường Daihoc Luật Hà Nội (2021), Giáo tinh Luật Dân sự Việt Nam, tập 2, NXB Công an nhin din, Hà Noi, tr. * Nicole Pemy (1992), Làm: thé nào để tránh rit ro pháp lý ki mua ben, NXB Pháp lý, Hà Nội, tr.
10 Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có từ điển nao và một văn bản pháp luật nao đưa ra khái niém cụ thể về điều kiên có hiệu lực của giao dich nói chung, điệu kiện co hiệu lực của hợp đông nói riêng BLDS từ năm 1995 cho đền nam 2015 không đưa ra quy định cụ thé giải thích “diéu kiện có hiệu lực của hop đồng” là gì ma chi đưa ra những trường hợp cụ thé về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Tuy nhiên, ta có thé phân tích khái niệm nay dua trên hai khía cạnh, bao gém: “diéu kiên” và “hiểu lực của hop đồng". Trước tiên, dé hiểu hơn về thuật ngữ “điều kién có hiểu lực của hop đồng", ta cân làm 16 hai khái niém mang tính mâu chốt là “hợp đồng" và “hiệu lực của hop đồng". Dau tiên, như đã cập ở trên, quan hệ hợp đồng là sự trao đôi loi ích trong xã hội được hình thành dua trên việc thé liện và thông nhật ý chí giữa các bên thông qua thiệt lập với nhau những quan hệ. Những mối quan hệ đó được hình thành theo nhiéu phương thức khác nhau thé hiện ý chí đơn phương của một bên hoặc sự thỏa thuận của nhiều bên.
Trong đó, sự thỏa thuận là phương thức phô biên và được thê hiện dưới dang hợp đông. Hay nói cách cụ thể hơn, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi, hoặc châm đút quyền, nghĩa vu dân sự của các bên tham gia quan hệ pháp luật. Ở Việt Nam, trong thực té đời sông, có nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ hợp đông như khé ước, giao kèo, cam kết, tờ ưng thudn,. O thời ki trước và sau khi gianh độc lập dân tộc, do ảnh hưởng của thuật ngữ pháp lý trong luật dân sự của Pháp, cụm từ phổ biên dé chi những giao dich dan sự được thiết lập trên cơ sở théa thuận giữa các bên với nhau( về xác lập, thay doi, châm đút quyên nghia vụ dân sự) được gọi là “khé ước”.
Cụ thể, thuật ngữ 'khế ước 'được sử dụng chính thức trong Sắc lệnh ngày 21/7/1925 (được sửa đổi bởi Sắc lệnh ngày 23/11/1926 và Sắc lệnh ngày 06/9/1927) ở Nam phân thuộc Pháp, trong Bộ Dân luật Bắc 1931 (sau đây việt là DLB 1931), và trong Bộ Dân luật Trung 1936 — 1939 (DLT 1936 —1939). Thuật ngữ ‘khé use’ cũng được sử dung trong Sắc lệnh 97/SL của nước Việt Nam Dân chủ C ông hòa, được Hồ Chủ tịch ký ban hành ngày 22/5/1950 (Điêu 13). Thuật ngữ “khế ước” cũng được sử dụng trong Bộ Dân luật 1972 của chê độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam trước 30/4/1975 (DLSG 1972) (Điều 653). 11 Trong từ điển tiếng Việt xuat bản năm 2000, từ “hợp đồng” van được định nghĩa là “giây cam kết giữa hai hoặc nhiéunguoi để làm việc gì”.
Từ điền Hán Việt tân từ dién của soạn gid Nguyễn Quốc Hung cũng ghi nhận “hop đồng” là tờ giầy ghi sự thoả thuận của đôi bên về việc gì. Những định nghĩa trên khá tương đồng với định nghĩa về “khé tước”. Quan điểm về hợp đông — khế ước ở đây hợp nhật với nhau, khi cùng thông nhật về khái niém: văn bản làm bằng chứng ghi nhận sự thöa thuận của các bên. Tuy nhiên, vé mắt pháp lý, định nghia “hợp đồng" đã co su thay đôi đáng kế so với hai từ điển ngôn ngữ nêu trên.
Từ điển Luật học được biên soạn dựa trên các quy định của pháp luật din sự, xuất ban năm 1999 đã ghi nhận “hop đồng" là sự thỏa thuận của các bên có tư cach pháp nhân hoặc giữa những người co đây đủ năng lực hành vi nhằm xác lập, thay đổi hoặc châm đứt quyên lợi va ngHĩa vu của mỗi bên Căn cứ theo quy định tại Điều 385 BLDS năm 2015 về khái niệm của hợp đông “Hop đồng là sự thöa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đôi hoặc cham đứt quyền, ngiãa vu dan su.” Như vậy, hep đông là căn cứ cơ bản của sự théa thuận, thông nhất ý chí giữa các chủ thể hướng tới hậu quả phát lý đó là làm phát sinh, thay đổi hoặc cham đứt quyền, nghia vụ của một hoặc các bên Hợp đông được coi là “công cụ pháp ly” quan trọng va có hiệu quả nhằm thúc day giao lưu dân sự phát triển, bảo đảm cho các quan hệ tài sản khi trao đổi được thực hiện trơng hành lang pháp lý an toàn theo những nguyên tắc đặc trung của luật dân sự. Trên thực tê thì hợp đồng tổn tại phong phú dưới nhiều hình thức với nhigu mục đích, nội dung khác nhau. Điều này đã đất ra câu hỏi về việc quy đính một cách chi tiệt, cụ thé những nguyên tắc và nội dung liên quan dén xác lap, thực hiện hợp đồng nhằm xác định quyền và nghiie vu dân sự, giải quyết tranh chap giữa các bên, nhằm bảo vệ một cách tốt nhật có thé quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Căn cứ theo Điều3 BLDS năm 2015 có thé thay, về cơ bản hợp đông van được giao kết trên các nguyên tắc cơ ban như tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận, bình đẳng.
Điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất của hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa các bên vệ éc xác lập, thay đôi hoặc châm đút quyên, nghia vụ dân su.” Tuy nhiên, trên thực tế, khi tham gia giao kết hợp đông, các chủ thê sẽ luôn mong muốn đưa ra nhiing lựa chon tốt nhật dé có thé dat được những lợi ích tối đa cho mình. Sự thê hiện ý chi của các bên chỉ có thé trở thành hợp đông khi có su thống nhất với nhau — tức là các bên đã đạt được sự đông thuận liên quan đền các vân đề cần giải quyết trong hợp đồng, 12 Vay nên, điều này sẽ đất ra tinh huông trong quá trình giao kết hợp đông, dé đạt được lợi ích tôi đa, các chủ thé sẽ đưa ra những yêu câu nhằm không chê lợi ích đối phương, thậm chí xâm phạm đến lợi ích các chủ thể khác, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng. nham tim kiêm lợi ích cho minh. V iệc này làm góp phan khién pháp luật hợp đông không thể điêu chỉnh các môi quan hệ xã hội một cach công bằng.
Theo quan điểm của nha tư tưởng Motesquieu thi “Tự do là quyền được làm tắt cá những điều mà pháp luật không cắm. Nếu một công dan làm đều trái luật thì anh ta không còn được tự do nữa; vì néu dé anh ta tự do làm thi moi người đều được làm trái luật ed”. Như vay, việc cần phải dat ra một giới hạn nhật định về bat cứ sự thỏa thuận nhằm rang buộc các bên là một điều cân thiết trong quan hệ pháp luật dân sự Đó 1a lý do cho sự ra đời của thuật ngữ “hiệu lực hơp đồng". Một tác giả đã vi rằng “hiểu lực của hợp đồng đối với sự tồn tại của hop đồng có thé được ví giống nhu: là “hơi thở” hay “Tinh hồn” đối với sự sống của con người”.
Hiệu lực hợp đẳng là van đề mang tinh ban chất của hợp đông vì suy cho cùng khi thiệt lập mét hop đông, người ta luôn hưởng đền việc tạo lập “su rang buộc pháp ly” đối với nhau và trông đợi bên kia cùng thực hiện nghia vụ phát sinh từ hợp đông, nhằm thỏa xuấn các lợi ích các bên.