Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LÝ VỀ ĐẦU TƯ CHO NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. KHÁI QUÁT CHUNG DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LÝ VỀ ĐẦU TƯ CHO NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Hoạt động đầu tư Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, khái niệm về đầu tư gắn liền với cụm từ: “Đầu tư kinh doanh” và được quy định tại Khoản 5 Điều 3, Luật đầu tư 2014, như sau: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”.
Theo đó, hoạt động đầu tư có thể hiểu là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội. Nguồn vốn đầu tư này có thể là những tài sản hữu hình như đất đai, nhà cửa, nhà máy, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thương mại. Các doanh nghiệp còn có thể đầu tư bằng cổ phần, trái phiếu, các quyền về sở hữu tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố hoặc các quyền có giá trị về mặt kinh tế như các quyền thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Đối với nền kinh tế nói chung, toàn bộ việc đầu tư được tiến hành ở một thời kỳ nhất định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ tiếp theo.
Xét về lâu dài, khối lượng đầu tư của ngày hôm nay sẽ quyết định dung lượng sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện đời sống trong tương lai. Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản vào một việc mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư.
Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển. Tổ chức hành nghề luật sư trong tư vấn dịch vụ pháp lý Tư vấn pháp lý là một trong những dịch vụ được cung cấp bởi các tổ chức hành nghề luật sư, tại Điều 4, Luật luật sư số 65/2006/QH11 và Luật số 20/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư (“Luật Luật sư”) quy định như sau: “ Dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác”. Tư vấn pháp lý là các hoạt động giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài xử sự đúng pháp luật đồng thời hỗ trợ các cá nhân, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Hoạt động tư vấn pháp lý không chỉ là việc chuyển tải các nội dung của một điều luật hay một văn bản pháp luật mà xét rộng hơn là hành động mà các luật sư sử dụng các kiến thức pháp luật và kinh nghiệm giúp khách hàng tìm ra giải pháp giải quyết các vấn đề đang gặp phải.
Tổ chức hành nghề luật sư phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật là thành viên. Theo đó Tổ chức hành nghê luật sư lựa chọn hình thức hoạt động là một trong các hình thức: Văn phòng luật sư hoặ Công ty luât, …Trong đó, Văn phòng luật sư là do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; còn Công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Thành viên của công ty luật phải là luật sư. Ngoài ra, điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư là: o Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật này; o Tổ chức hành nghề luật sư phải có trụ sở làm việc.
o Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư. Trong trường hợp luật sư ở các Đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập một công ty luật thì có thể lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà một trong các luật sư đó là thành viên. o Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động, các luật sư thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư không phải là thành viên của Đoàn luật sư nơi có tổ chức hành nghề luật sư phải 5 chuyển về gia nhập Đoàn luật sư nơi có tổ chức hành nghề luật sư hoặc chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư theo quy định tại Điều 20 của Luật này Hiện nay, ở Việt Nam, các Tổ chức hành nghề luật sư sẽ cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý trong phạm vi sau: o Cập nhập các VBPL và thông báo cho khách hàng thực hiện các nghĩa vụ pháp lý mới nhất. o Chuẩn bị các Biên bản hoặc các Nghị quyết liên quan đến cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên và Ban giám đốc, các thông báo, các mẫu văn bản điều hành trong công ty.
o Dự thảo các văn bản nghị quyết của Ban giám đốc và các văn bản liên quan về việc thay đổi các vấn đề như: Giám đốc, thư ký, địa chỉ công ty. o Rà soát và dự thảo các công văn trao đổi với khách hàng và đối tác hay với các cơ quan chức năng. o Thẩm định, rà soát các rủi ro pháp lý liên quan tới các Hợp đồng đã ký kết. o Soạn thảo các hợp đồng kinh tế, hợp tác, phân phối, chuyển nhượng, đầu tư, lao động.
o Tham gia đàm phán ký kết hợp đồng với đối tác, nhà cung cấp và các bên liên quan. o Đại diện pháp luật xử lý các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. o Rà soát tính pháp lý của các Hợp đồng lao động. o Tư vấn xây dựng nội dung, quy chế lao động.
o Tư vấn giải quyết các tranh chấp lao động. o Cung cấp các biểu mẫu cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. o Tư vấn về kế toán, pháp luật thuế cho doanh nghiệp. o Hoàn thiện số sách chứng từ, lập báo cáo tài chính, xây dựng bảng cân đối thuế.
o Tư vấn xây dựng Hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả công việc, đánh giá trả lương, thưởng, tạo động lực cho nhân viên. o Tư vấn xây dựng hệ thống đào tạo nội bộ – Phát triển sức mạnh mềm của Doanh nghiệp. o Đào tạo và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp o Tư vấn thu hồi nợ 6 o Tư vấn sát nhập, chia tách doanh nghiệp và những hoạt động liên quan Tại Điều 22 của Luật Luật sư quy định cụ thể hơn về Phạm vi hành nghề luật sư, như sau: “1. Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.
Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật. Thực hiện tư vấn pháp luật. Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật. Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật này” Có thể thấy rằng, các Tổ chức hành nghề luật sư nói chung và luật sư nói riêng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ lúc thành lập, hoạt động và phát triển cho tới khi chấm dứt.
Tuy nhiên, hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn chưa nhận thức được vai trò của việc hỗ trợ pháp lý. Họ cho rằng, có nhiều công việc mà doanh nghiệp có thể tự thực hiện mà không muốn tốn chi phí tư vấn. Trong thời kỳ cạnh tranh khốc liệt cùng với sự thay đổi của các chính sách pháp luật, không có một điểm tựa pháp lý vững chắc, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp phải chịu những tổn thất to lớn do không lường trước được những rủi ro phát sinh 2. KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LÝ VỀ ĐẦU TƯ CHO NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 2.
Bản chất của Hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý Hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý là hợp đồng dân sự, được định nghĩa, quy định về nội dung từ Điều 58 đến Điều 526 của Bộ luật dân sự 2005. Theo đó, Hợp đồng dịch vụ được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng 7 dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.