Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ giáo dục trong các cơ sở giáo dục tư thục. Chương 2: Thực trạng pháp luật về dịch vụ giáo dục trong các cơ sở giáo dục tư thục tại Việt Nam hiện nay. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dịch vụ giáo dục trong các cơ sở giáo dục tư thục tại Việt Nam hiện nay. Tính mới và những đóng góp của đề tài 2.
Tính mới của đề tài Có thể nhận thấy rằng, đa số các công trình nghiên cứu nêu trên đều có giá trị đóng góp cho việc nghiên cứu pháp luật về dịch vụ giáo dục, tuy nhiên chưa có công trình đi sâu vào khai thác các khía cạnh pháp lý, cũng như thực tiễn của dịch vụ giáo dục trong các cơ sở giáo dục tư thục tại Việt Nam hiện nay. Luận văn mà học viên lựa chọn vừa kế thừa tư tưởng pháp lý của các tác giả đi trước, nhưng điểm mới của luận văn là lựa chọn nghiên cứu dịch vụ giáo dục trong các 18 cơ sở giáo dục tư thục tại Việt Nam dưới nhiều góc độ. Học viên tập trung nghiên cứu nội hàm của dịch vụ giáo dục trong các cơ sở giáo dục tư thục tại Việt Nam dưới góc độ pháp lý, thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật. Ngoài việc tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, luận văn phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành trong tương quan trong tương quan so sánh với quy định của các tổ chức giáo dục quốc tế, pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới về dịch vụ giáo dục tư thục với những số liệu mới nhất, được cập nhật trong các năm gần đây, không trùng lặp với bất cứ tài liệu nào đã có trước.
Những đóng góp của đề tài Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về dịch vụ giáo dục trong các cơ sở giáo dục tư thục tại Việt Nam, đánh giá một cách tương đối toàn diện thực trạng pháp luật về dịch vụ giáo dục trong các cơ sở giáo dục tư thục ở nước ta hiện nay. Đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dịch vụ giáo dục trong các cơ sở giáo dục tư thục. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và học tập của sinh viên, học viên chuyên ngành luật. Ngoài ra, luận văn còn có thể cung cấp kiến thức cho những người làm công tác trong lĩnh vực giáo dục, những người hoạt động trong các cơ sở giáo dục và những người có nhu cầu liên quan đến lĩnh vực này.
19 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ GIÁO DỤC TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC TƢ THỤC 1. Khái quát về dịch vụ giáo dục và cơ sở giáo dục tƣ thục 1. Khái niệm dịch vụ Cũng giống như hàng hóa, dịch vụ ra đời và xuất hiện là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất của con người, để phục vụ nhu cầu trong cuộc sống. Hay nói cách khác, dịch vụ là kết quả của sự thỏa mãn nhu cầu - động lực dẫn dắt hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường.
Điểm khác biệt cơ bản, đó là hàng hóa là các “sản phẩm, vật hữu hình” mang hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng, thì dịch vụ lại là các “sản phẩm vô hình, không nhìn thấy được”, nhưng cũng mang các thuộc tính về giá trị và giá trị sử dụng [12, tr. Do sự khác nhau về tính hiện hữu hay không hiện hữu giữa hàng hóa và dịch vụ, đã tạo nên sự khác biệt trong các giao dịch dân sự, kinh tế thương mại. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách trên thế giới vẫn chưa đi đến sự thống nhất về khái niệm “dịch vụ”, bởi dịch vụ được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, do sự đa dạng về chủng loại và tính vô hình của dịch vụ. Các nhà kinh tế học thời cận đại thường định nghĩa dịch vụ gắn với quá trình sản xuất, rằng “dịch vụ là một chuỗi lợi ích được tạo ra bởi sự vận hành của hệ thống kỹ thuật và/hoặc bởi hoạt động của các cá nhân, được cung ứng bởi một (hoặc một chuỗi) nhà cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ nhằm thực hiện hoặc trợ giúp hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động cá nhân của họ” [13, tr.
Định nghĩa này về cơ bản đã lột tả được tương đối chính xác bản chất của hoạt động dịch vụ trong đời sống kinh tế, thế nhưng chưa bao quát hết được nội hàm, đặc biệt là chưa đề cập đến được nội hàm dưới lăng kính pháp lý.Mác, ông đã đưa ra một khái niệm về dịch vụ dưới góc độ 20 kinh tế chính trị: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy thông suốt liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển” [12, tr. Quan điểm nêu trên của Mác bắt đầu có cái nhìn rộng hơn, khi mà khai thác từ khía cạnh khởi nguồn của dịch vụ là từ sản xuất hàng hóa. Đặt trong mối tương quan giữa lưu thông hàng hóa và cán cân cung - cầu của nền kinh tế thị trường, thì quan điểm này có sức thuyết phục, mặc dù chưa làm nổi bật hết được tính chất của dịch vụ. Trải qua thời gian phát triển, đặc biệt là trong quá trình xây dựng cơ chế tài phán chung trong hoạt động TMDV; trải qua quá trình đúc kết nhiều học thuyết, quan điểm pháp lý về dịch vụ.
Trên cơ sở thừa nhận dịch vụ bao gồm một loạt các sản phẩm và hoạt động vô hình mà rất khó có thể được đúc kết trong một định nghĩa đơn giản; giữa dịch vụ và hàng hóa cũng có những điểm tương đồng nhất định và có những mối liên hệ ở các cấp độ khác nhau. Năm 2002, các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính lớn trên thế giới đã họp bàn tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sỹ), cùng cho ra đời một định nghĩa chung, thuyết phục nhất, làm cơ sở để điều chỉnh các hoạt động TMDV trở về sau. Theo đó: Dịch vụ là các sản phẩm đầu ra được sản xuất (tạo ra) theo đặt hàng và chúng không thể được mua bán, trao đổi tách biệt khỏi quá trình sản xuất ra (tạo ra) chúng; Các quyền sở hữu không thể được thiết lập trên các dịch vụ, và vào thời điểm quá trình sản xuất ra (tạo ra) chúng được hoàn thành, dịch vụ được cung cấp ngay cho khách hàng tiêu dùng [30]. Bên cạnh nhiều định nghĩa về dịch vụ mang tính hàn lâm, trên thực tế có thể hiểu nôm na dịch vụ là sản phẩm của quá trình lao động, sản xuất của con 21 người, tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân, tổ chức và đời sống xã hội.
Từ điển tiếng Việt năm 2004 định nghĩa “dịch vụ” là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công; Luật Giá 2023 thì đưa ra định nghĩa “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau”. Xét về tính chất, dịch vụ bao gồm năm đặc tính cơ bản: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không xác lập quyền sở hữu, tính không tách rời với sản xuất và tiêu dùng, và tính không thể lưu trữ. Luận văn sẽ phân tích sâu các đặc tính này trong phần sau, khi phân tích đặc điểm của dịch vụ giáo dục. Khái niệm dịch vụ giáo dục Dịch vụ giáo dục (DVGD) là một thuật ngữ mới, có phần non trẻ tại Việt Nam.
Thông thường, chúng ta quan niệm “giáo dục” là một quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm được truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau thông qua giảng dạy, đào tạo hoặc nghiên cứu, nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định. Quá trình này diễn ra trong đời sống hàng ngày, được gọi chung là “hoạt động giáo dục” hoặc “hoạt động trong lĩnh vực giáo dục”. Bằng nhiều lý do, tại Việt Nam có rất ít các văn bản sử dụng hay đưa ra quan điểm về cụm từ DVGD, kể cả văn bản QPPL hay trong các công trình nghiên cứu về pháp luật giáo dục. Nguyên nhân chủ quan, là do số lượng các nhà nghiên cứu về pháp luật giáo dục còn khiêm tốn, đặc biệt là khi cho ra đời các công trình nghiên cứu gắn lĩnh vực giáo dục với hoạt động kinh tế, thương mại.
Nguyên nhân khách quan, đó là hành lang pháp lý của Việt Nam hiện nay chưa thừa nhận khái niệm “dịch vụ giáo dục” trong bất cứ văn bản QPPL nào. Xét ở một khía cạnh khác, các nhà lập 22 pháp nước ta thường né tránh sử dụng cụm từ “giáo dục” gắn liền với các yếu tố có tính thương mại hóa, mà chỉ đơn thuần gọi chung là “hoạt động giáo dục”. Theo Trần Văn Hùng (2014), DVGD là những dịch vụ được cung cấp trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục, mà kết quả của hoạt động này là người dân nhận đạt được một trình độ giáo dục đào tạo nhất định. Một số quan điểm khác cho rằng, dịch vụ giáo dục “là một dịch vụ bền mà đầu ra của giáo dục tức là con người là một nhân tố sản xuất lâu dài”; hoặc “giáo dục trước hết là một dịch vụ, sản phẩm được tạo ra là những con người hoàn toàn có thể tham gia vào quá trình đào tạo” [15, tr.
Trần Vũ Tuyên (2021) trong công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng DVGD là hệ thống các dịch vụ tích hợp cung cấp cho học sinh trong các cơ sở giáo dục (CSGD) để phát triển môi trường giáo dục… [17, tr. Quan điểm của các tác giả trên đã bước đầu đề cập đến bản chất, cũng như vai trò của giáo dục dưới góc độ là một ngành dịch vụ. Tuy nhiên, cốt lõi, nội hàm của DVGD dưới nhiều khía cạnh vẫn chưa được nêu ra một cách cụ thể. Trên thế giới, các văn bản đưa ra định nghĩa, quan điểm về DVGD ra đời tương đối sớm và có giá trị áp dụng vào thực tiễn.
Năm 2002, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa ra một định nghĩa khá đầy đủ về DVGD, làm thước đo chung cho các quốc gia thành viên của mình.