chương 1: Giới thiệu tổng quan về giáo dục mầm non của tỉnh Tiền Giang, điều kiện, bối cảnh nghiên cứu. Tác giả trình bày, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi, phương pháp nghiên cứu; trình bày kết cấu của luận văn. Phân tích thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục mầm non trong giai đoạn 2005-2015. 123doc 11 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
Khảo lược lý thuyết 2.1 Giáo dục mầm non Theo Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009, thì giáo dục mầm mon được quy định như sau: Giáo dục mầm non: Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một. Chương trình giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầm non; cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi mầm non. Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm: + Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi; + Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi; + Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
XHH sự nghiệp giáo dục được khẳng định: Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục. Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.2 Chính sách xã hội hóa Nhằm khuyến khích toàn bộ xã hội tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ mang tính chất sự nghiệp (giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường…), nhà nước đã ban hành các văn bản quy định ưu đãi dành cho các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động đó. Các quy định này được thể hiện lần đầu trong Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao; kế tiếp là Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.
Chính sách hiện nay được quy định trong Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Chính sách về XHH được khẳng định nhằm mở rộng các nguồn lực đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩ tình thế trược mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này. Chính sách XHH cũng được coi là giải pháp để giải quyết vấn đề công bằng xã hội, tạo ra nhiều sự lựa chọn cho dịch vụ công.
Thực hiện XHH giáo dục, y tế, văn hóa là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta. Công bằng xã hội không chỉ biểu hiện về mặt hưởng thụ (tức là người dân được xã hội và nhà nước chăm lo), mà còn biểu hiện cả về mặt người dân đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người, từng tổ chức. Trong lĩnh vực giáo dục thực hiện đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục: người đi học phải đóng học phí, người sử 123doc 13 dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo. Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học.
Chính sách XHH tiếp tục được khẳng định như là chủ trương quan trọng để đẩy mạnh phát triển giáo dục, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 05/2005/NQ- CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.3 Đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh vực giáo dục Hiện nay, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo so với GDP của Việt Nam không thấp so với nhiều nước trên thế giới, song phần dành cho đầu tư không nhiều, cộng thêm công tác quản lý còn hạn chế khiến nguồn lực đầu tư cho giáo dục lại càng thêm hạn hẹp và kém hiệu quả. Đầu tư cho con người là lĩnh vực quan trọng trong đầu tư công, bởi xét về dài hạn, chính sự gia tăng về chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng cũng như năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Trong những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu nhận thấy nguồn lực ngân sách không thể đáp ứng được nhu cầu cơ bản của việc cung cấp dịch vụ giáo dục có chất lượng cho xã hội. Do đó, họ đã nghiên cứu các mô hình nhằm kêu gọi sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước vào đầu tư cung ứng dịch vụ công và đã đạt được nhiều thành công.
Mục đích của việc hình thành mối quan hệ công - tư này là huy động nguồn lực và tính sáng tạo, công nghệ tiên tiến cũng như kinh nghiệm quốc tế về giáo dục của khu vực tư nhân. Ở Việt Nam, với nguồn tài chính còn hạn hẹp, hệ thống giáo dục và đào tạo đâu đó còn mang nặng tính lý thuyết, tuyên truyền, thiếu sự sáng tạo, thì việc áp dụng hình thức đầu tư đối tác công tư có thể tạo nên những thay đổi đáng kể trong hệ thống giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Cụ thể, đối với giáo dục và đào tạo, trong giai đoạn 2009 - 2013, tổng vốn đầu tư của Chính phủ dành cho lĩnh vực này liên tục tăng từ 9 - 13%/năm, nhưng tỷ 123doc 14 lệ vốn đầu tư chỉ ở mức 2,8 - 3,1% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Từ đầu năm 2014, vốn đầu tư cho giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ dù có tăng, nhưng vẫn chưa thể mang lại hiệu quả vượt bậc cho giáo dục và đào tạo cũng như khoa học và công nghệ.
Mặt khác, nhìn vào Bảng tổng hợp chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ trong giai đoạn nêu trên do Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cung cấp cũng có thể thấy: Phần lớn số vốn chi cho giáo dục của Việt Nam là đổ vào các trường công ở mọi cấp học. Số lượng các trường công ở mức cao, trong đó có cấp tiểu học và trung học cơ sở luôn chiếm trên 99% số lượng trường trên cả nước. Cơ cấu chi tiêu công thường xuyên trong lĩnh vực này vẫn lấn át so với chi tiêu cho đầu tư, đặc biệt là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Chính bởi những lý do đó, cần có các biện pháp ưu đãi để khuyến khích khu vực kinh tế ngoài nhà nước tham gia vào phát triển giáo dục và đào tạo.
Đây là công cụ được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển để đảm bảo chất lượng đào tạo cũng như “lợi dụng” những chính sách ưu đãi để thu hút nguồn lực xã hội. Đẩy mạnh áp dụng hình thức đầu tư PPP trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo sẽ góp phần thu hút khu vực tư nhân cùng tham gia phát triển đất nước. Như vậy, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư được ban hành sẽ tạo điều kiện và khuyến khích cho nhà đầu tư tư nhân tham gia vào các dự án công, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Theo Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư đã quy định đầu tư theo hình thức đối tác công tư là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.
Các hợp đồng thực hiện dự án PPP bao gồm: + Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và 123doc 15 nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. + Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.