Mở đầu, 3 chƣơng (10 tiết), kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 17 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHUẨN HÓA GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. hái niệ chuẩn hoá Chuẩn là cái đƣợc đặt ra và mang tính pháp lý để là thƣớc đo đo lƣờng số lƣợng, trong lƣợng, giá trị hoặc chất lƣợng. Chuẩn Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) có 3 nghĩa; Là cái đƣợc chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hƣớng tới theo đó làm cho đúng; Là vật đƣợc chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lƣờng; Là cái đƣợc công nhận đúng theo quy định hoặc thói quen trong xã hội.
Thuật ngữ “chuẩn hoá” đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay trên nhiều lĩnh vực nhƣ: kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, giáo dục, y tế, thể thao… Do đó, khái niệm “chuẩn hoá” có nhiều quan niệm khác nhau. Theo quan niệm của Quốc tế về “chuẩn hoá” (Standardization) là những quá trình là cho các sự vật, đối tƣợng thuộc phạm trù nhất định (kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, giáo dục, y tế, thể thao…) đáp ứng đƣợc các chuẩn đã ban hành trong phạm vi áp dụng và hiệu lực của các chuẩn đó. Đồng thời, chuẩn hoá cũng có nghĩa nói đến những sự vật, đối tƣợng đã đạt chuẩn, có tính chuẩn, thí dụ trắc nghiệm chuẩn hoá, phần mềm chuẩn hoá, văn bản hành chính chuẩn hoá… nhƣ là những kết quả của việc áp dụng chuẩn, tuân thủ chuẩn. Theo Đại từ điển Tiếng Việt “Chuẩn hóa” nghĩa là “xác lập chuẩn mực”.
Theo đó, có thể hiểu chuẩn hóa là một quá trình xác lập chuẩn mực về một lĩnh vực nào đó trong đời sống, xã hội. Theo nghĩa chung nhất, chuẩn hoá là “làm cho trở thành có chuẩn rõ ràng”. Theo quan niệm trên, thì chuẩn hoá là làm cho đối tƣợng có những tiêu chuẩn có thể xác định đƣợc định lƣợng, định tính. Luan van 18 Như vậy, chuẩn hoá là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể, nhằm tác động vào một đối tượng nào đó, làm cho nó biến đổi đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn đã xác định.
Muốn chuẩn hoá một đối tƣợng nào đó thì chủ thể phải xác định tiêu chuẩn của đối tƣợng đó. Tiêu chuẩn chính là căn cứ để xác định, để làm thƣớc đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm, dịch vụ., đồng thời để đối chiếu, để hƣớng theo mà làm cho đúng. Căn cứ vào tiêu chuẩn mà chủ thể tìm ra các biện pháp tác động làm cho đối tƣợng biến đổi phát triển nhằm đạt đƣợc kết quả mong muốn. Nhƣ vậy, từ khái niệm trên có thể thấy rằng chuẩn hoá có các chức năng cơ bản là: Định hƣớng các hoạt động quản lý và thực hiện các chức năng, các nhiệm vụ, các biện pháp quản lý khác nhau trên những nguyên tắc nhất quán; Quy cách hoá sản phẩm và các quá trình tạo ra sản phẩm (nguồn lực, công nghệ, phƣơng tiện.), làm cho chúng có tính chuẩn mực thống nhất, tức là đƣa những đối tƣợng này vào trật tự nhất định; khuyến khích sự phát triển, tạo môi trƣờng ngày càng thích hợp hơn cho sự phát triển đồng thời ngày càng hạn chế những nhân tố tự phát, phi chính thức trong phát triển hoặc những nhân tố phản phát triển.
Cái đƣợc chọn làm chuẩn, làm mục tiêu của chuẩn hoá có nhiều cấp độ. Chuẩn hoá trong giáo dục đang đƣợc bàn đến với nội hàm rất rộng: Chuẩn hoá các khâu, các bƣớc; chuẩn hoá các nhân tố; chuẩn hoá toàn bộ quá trình giáo dục và đào tạo hoặc chuẩn hoá cấp trƣờng, chuẩn hoá cấp ngành, chuẩn quốc gia, chuẩn quốc tế. Giáo dục hiện đại chỉ ra rằng, các nhân tố của quá trình giáo dục có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa chế ƣớc nhau, ràng buộc lẫn nhau, vừa hỗ trợ nhau, tác động vào nhân tố này sẽ ảnh hƣởng đến các nhân tố khác. hái niệ chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở Chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh Trung học cơ sở là một hoạt động mang tính mục đích, tính kế hoạch của các chủ thể quản lý giáo viên tiếng Anh.
Chủ Luan van 19 thể quản lý đó là: Chi bộ, Ban Giám hiệu (là ngƣời đại diện cao nhất trong nhà trƣờng). Đó là những chủ thể trực tiếp hay gián tiếp tiến hành các hoạt động tác động vào khách thể chuẩn hoá là giáo viên tiếng Anh. Các hoạt động chuẩn hoá của chủ thể tiến tới thực hiện mục tiêu là làm cho khách thể biến đổi, phát triển về số lƣợng và chất lƣợng đạt đƣợc mục đích chuẩn hoá của nhà trƣờng đề ra là: chuẩn hoá về đầu vào, trình độ, kỹ năng sƣ phạm, chức danh, tin học – ngoại ngữ. Việc tiến hành hoạt động chuẩn ngũ giáo viên tiếng Anh các trƣờng trung học cơ sở của các chủ thể phải đƣợc thể hiện ở tính kế hoạch hoá, thực hiện bằng kế hoạch và mang tính mục đích rõ dàng.
Kế hoạch chuẩn hoá là một văn bản pháp lý để các lực lƣợng trong nhà trƣờng quán triệt và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu quả cao, trong đó vai trò quyết định là các chủ thể và khách thể của việc chuẩn hoá. Kế hoạch đƣợc xây dựng trên cơ sở khoa học, xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn về đội ngũ nhà giáo nói chung, của các trƣờng trung học cơ sở và căn cứ vào các văn bản, hƣớng dẫn về công tác chuẩn hoá, phát triển, quy hoạch cán bộ, giáo viên của nhà trƣờng, bộ môn tiếng Anh. Có kế hoạch dài hạn, ngắn hạn theo nhiệm vụ năm học hay theo nhiệm kỳ của chi bộ nhà trƣờng. Kế hoạch đó đƣợc thể hiện ở các Nghị quyết Đại hội chi bộ nhà trƣờng; Kế hoạch năm học, học kỳ, của cơ quan chức năng.
Trong kế hoạch các chủ thể xây dựng các tiêu chí chuẩn hoá, nội dung và biện pháp thực hiện từng tiêu chí. Trên cơ sở kế hoạch đã đƣợc xây dựng cả chủ thể và khách thể cùng thực hiện và có sự phối hợp, tác động lẫn nhau và có mối quan hệ biện chứng trong quá trình hoạt động. Hoạt động chuẩn hoá của chủ thể và khách thể cùng hƣớng tới mục đích cao nhất là nâng cao chất lƣợng giáo viên tiếng Anh đáp ứng yêu cầu phát triển đổi mới căn bản và toàn diện trong đó có dạy và học tiếng Anh ở bậc trung học cơ sở. Thuật ngữ chuẩn hóa giáo viên chỉ việc nâng cao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho các giáo viên đang dạy học.
Luan van 20 Bồi dƣỡng giáo viên để chuẩn hóa đƣợc xem là đào tạo lại, cập nhật kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, ở nƣớc ta có 3 loại hình bồi dƣỡng: Bồi dƣỡng thƣờng xuyên theo chu kỳ, bồi dƣỡng chuẩn hóa và bồi dƣỡng để dạy chƣơng trình sách giáo khoa mới. Chuẩn hóa cần làm cho giáo viên tham gia bồi dƣỡng có những hiểu biết đầy đủ những yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp giáo dục; có kỹ năng dạy học đảm bảo nguyên tắc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Trƣớc những yêu cầu đổi mới của đất nƣớc, của xã hội, của ngành giáo dục, yêu cầu đổi mới với ngƣời GV rất đa dạng, phong phú. Nhiều kiến thức của các lĩnh vực khác nhau cần đƣợc trang bị để nâng cao trình độ.
Thế giới đã quen dùng thuật ngữ giáo dục GV (Teacher education) để chỉ việc đào tạo GV bao gồm cả việc đào tạo tiếp tục sau đào tạo ban đầu trƣớc khi dạy học (Preservice training, initial T) và đào tạo tiếp tục sau đào tạo ban đầu, tiến hành khi GV đang dạy học (In – service T, postinitial T). Nƣớc ta thƣờng dùng thuật ngữ đào tạo GV và bồi dƣỡng GV. Điều này có ƣu điểm là đào tạo ban đầu với bồi dƣỡng sau đào tạo, vốn có một số đặc điểm khác nhau, nhƣng đồng thời có nhƣợc điểm là chƣa phản ánh đƣợc quan điểm đào tạo liên tục, tiếp nối, thƣờng xuyên trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ngƣời GV. Từ sự những phân tích ở trên chúng tôi cho rằng: Chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh các trường Trung học cơ sở là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý, nhằm tác động vào giáo viên tiếng Anh để đạt được các tiêu chí về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ giảng dạy môn tiếng Anh của nhà trường.
Để tiến hành chuẩn hoá giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở đạt đƣợc mục tiêu đề ra, các chủ thể tiến hành đồng bộ các cách thức, biện pháp tác động vào giáo viên để tạo ra sự biến đổi về chất lƣợng và số lƣợng. Trên cơ sở các chủ Luan van 21 trƣơng biện pháp lãnh đạo của chi bộ, Ban giám hiệu, xây dựng kế hoạch hoá việc chuẩn hoá đội ngũ, phân công, phân cấp quản lý việc thực hiện kế hoạch, khuyến khích phát triển, tạo môi trƣờng thuận lợi hơn cho mỗi giáo viên tự học tập, tu dƣỡng, rèn luyện phấn đấu vƣơn lên đạt chuẩn, xây dựng và phát triển đội ngũ đạt chuẩn về chất lƣợng, số lƣợng và cơ cấu. Với vai trò là chủ thể của chuẩn hoá giáo viên: Chi bộ, Ban Giám hiệu; thực hiện các chủ trƣơng, biện pháp chuẩn hoá. Ngoài ra, các cơ quan chức năng tham mƣu, hƣớng dẫn, triển khai thực hiện các biện pháp chuẩn hoá; đề xuất các nội dung, hình thức, phƣơng pháp chuẩn hoá, theo dõi kết quả thực hiện, sơ kết, rút kinh nghiệm chuẩn hoá, góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh của nhà trƣờng.
GV có một vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lƣợng giáo dục. Vấn đề này đã đƣợc xác định trong Điều 15 của Luật Giáo Dục: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lƣợng giáo dục.” Trong nhà trƣờng, đội ngũ GV có vai trò quan trọng trong việc đào tạo rèn luyện, phát triển trí tuệ nhân cách cho thế hệ trẻ. Ở tầm vĩ mô, đội ngũ GV góp phần nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Ở những thập kỉ qua, ngƣời thầy luôn giữ vai trò quan trọng là cầu nối giữa nền văn hóa dân tộc và nhân loại với việc tái hiện và phát triển nền văn hóa ấy ở thế hệ trẻ.
Thầy giáo là ngƣời giúp học sinh biến tinh hoa của nền văn hóa thành tài sản riêng của mình. Trong nhà trƣờng thầy giáo là ngƣời tổ chức chính và quyết định chất lƣợng đào tạo. Nghị quyết TW 2 (Khóa VIII) đã chỉ rõ: “GV phải có đủ đức, đủ tài”.