Tổng quan nghiên cứu

Thị trường bán lẻ Việt Nam với quy mô dân số hơn 90 triệu người và trên 60% người tiêu dùng trẻ đang trở thành tâm điểm thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo bảng xếp hạng chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu của Tập đoàn tư vấn A.T. Kearney, Việt Nam từng đứng vị trí thứ 14 trong số các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới với doanh số ước tính vượt mức 20 tỷ USD mỗi năm. Tính đến giai đoạn hậu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, cả nước ghi nhận khoảng 700 siêu thị và trung tâm mua sắm, trong đó các nhà bán lẻ ngoại chiếm 40% thị phần; đồng thời nắm giữ 31 trên tổng số 125 trung tâm thương mại hiện hữu, tương đương 25% thị phần phân khúc này. Bộ Công Thương dự báo mạng lưới bán lẻ hiện đại sẽ tăng trưởng nhanh chóng, đạt mốc 1.300 siêu thị và 180 trung tâm thương mại vào giai đoạn tiếp theo.

Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường hoàn toàn cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài từ ngày 01/01/2015 theo cam kết gia nhập tổ chức thương mại quốc tế, cùng hiệu ứng từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương đã đặt ra áp lực cạnh tranh khốc liệt cho doanh nghiệp nội địa. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết khoảng trống giữa các cam kết quốc tế và thực tiễn áp dụng pháp luật kinh tế đối với hoạt động phân phối bán lẻ của nhà đầu tư nước ngoài.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng quy định pháp luật và đánh giá thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh – đầu tàu kinh tế chiếm tỷ trọng chi tiêu tiêu dùng cao nhất cả nước. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào không gian Thành phố Hồ Chí Minh trong sự đối chiếu với cả nước giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2016. Về mặt giá trị ứng dụng, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu pháp lý thực chứng, giúp nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư kinh doanh và đề xuất khung giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý cho các chủ thể tham gia thị trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp của hai nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết tự do hóa thương mại quốc tế trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ và Lý thuyết quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nguyên tắc pháp lý nền tảng bao gồm Nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc quy định tại Điều II Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ nhằm bảo đảm bình đẳng giữa các đối tác nước ngoài, cùng Nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia nhằm thiết lập sự công bằng giữa nhà đầu tư ngoại và doanh nghiệp nội địa.

Khung khái niệm của luận văn vận dụng hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm của Liên Hợp Quốc, theo đó ngành dịch vụ phân phối bao gồm bốn phân ngành chính: dịch vụ đại lý hoa hồng mã số 621, dịch vụ bán buôn mã số 622, dịch vụ bán lẻ mã số 631 cùng 632 và nhượng quyền thương mại mã số 8929. Đồng thời, nghiên cứu làm rõ ba khái niệm then chốt trong pháp luật thực định Việt Nam: khái niệm bán lẻ theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 23/2007/NĐ-CP; định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014 với ngưỡng sở hữu 51% vốn điều lệ; và công cụ Kiểm tra nhu cầu kinh tế quy định tại Điều XVI Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hơn 100 văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Bộ Công Thương, Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống hiệp định thương mại song phương và đa phương trong giai đoạn 9 năm từ năm 2007 đến năm 2016.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học và phương pháp hệ thống hóa thực tiễn. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế bao gồm toàn bộ 5 mô hình phân phối bán lẻ hiện đại tiêu biểu của doanh nghiệp ngoại tại Việt Nam: mô hình bán buôn kết hợp bán lẻ theo thẻ (khảo sát hệ thống Metro Cash & Carry với 19 trung tâm tại 16 địa phương), chuỗi đại siêu thị tổng hợp (hệ thống Big C với 33 điểm bán và Lotte Mart với 14 điểm bán), trung tâm thương mại đa dịch vụ (Aeon Mall với 4 trung tâm thương mại quy mô lớn), chuỗi cửa hàng tiện lợi nhượng quyền (Circle K với hơn 150 cửa hàng và FamilyMart với 42 cửa hàng), và mạng lưới bán lẻ nội địa dẫn đầu để đối chứng (Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh - Saigon Co.op với 82 siêu thị trên toàn quốc). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp dữ liệu thống kê tổng hợp là nhằm bóc tách chính xác những xung đột pháp lý giữa luật nội dung và luật hình thức trong quá trình thực thi cấp phép bán lẻ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống pháp luật bộc lộ sự bất cập sâu sắc trong việc định danh các khái niệm pháp lý cốt lõi. Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 23/2007/NĐ-CP quy định bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, trong khi Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 lại mở rộng phạm vi người tiêu dùng sang cả tổ chức sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Sự không thống nhất này tạo ra lỗ hổng pháp lý lớn đối với các giao dịch cung ứng nguyên vật liệu công nghiệp quy mô lớn giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đối tác sản xuất nội địa.

Thứ hai, công cụ Kiểm tra nhu cầu kinh tế đối với việc lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất còn mang nặng tính định tính và tùy nghi. Dù Điều 7 Thông tư số 08/2013/TT-BCT đã đưa ra tiêu chí diện tích dưới 500 m2 tại khu vực đã quy hoạch hoàn thiện hạ tầng để miễn kiểm tra nhu cầu kinh tế, nhưng các tiêu chuẩn về số lượng cơ sở hiện hữu, sự ổn định thị trường và mật độ dân cư tại cấp quận huyện vẫn chưa có định lượng cụ thể. Điều này dẫn đến sự thiếu nhất quán trong việc thành lập Hội đồng kiểm tra nhu cầu kinh tế tại các địa phương.

Thứ ba, sự thay đổi thể chế trong Luật Đầu tư năm 2014 đã tạo ra xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang hình thức mua bán và sáp nhập doanh nghiệp để phát triển mạng lưới bán lẻ. Cụ thể, các nhà đầu tư nước ngoài tận dụng quy định tại Điều 26 Luật Đầu tư năm 2014 để mua lại toàn bộ hoặc một phần chuỗi bán lẻ sẵn có (như thương vụ tập đoàn TCC Group mua lại Metro Cash & Carry trị giá 879 triệu USD đổi tên thành Mega Market, hoặc Aeon mua cổ phần chuỗi Citimart và Fivimart) nhằm né tránh thủ tục kiểm tra nhu cầu kinh tế phức tạp vốn có thể kéo dài từ 6 tháng đến hơn 1 năm.

Thứ tư, danh mục hạn chế tiếp cận thị trường gồm 7 nhóm mặt hàng nhà đầu tư nước ngoài không được quyền phân phối (thuốc lá, sách báo, kim loại quý, dược phẩm, thuốc nổ, dầu mỏ chế biến, gạo và đường) đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ gián tiếp qua hình thức góp vốn sở hữu dưới 51% vào các doanh nghiệp bán lẻ nội địa đang kinh doanh các mặt hàng này.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên xuất phát từ sự chậm trễ trong việc nội luật hóa các cam kết quốc tế và sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật chuyên ngành thương mại với pháp luật đầu tư, doanh nghiệp. Khi so sánh với kinh nghiệm lập pháp của các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới, chẳng hạn như Vương quốc Bỉ chỉ áp dụng kiểm tra nhu cầu kinh tế đối với loại hình cửa hàng bách hóa tổng hợp quy mô lớn, pháp luật Việt Nam đang áp dụng biện pháp này trên diện rộng cho hầu hết các loại hình bán lẻ hàng hóa mà không có sự phân loại chi tiết theo tính chất mặt hàng hay công năng phục vụ dân sinh.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được thể hiện qua bảng so sánh đối chiếu giữa Thông tư số 09/2007/TT-BTM và Thông tư số 08/2013/TT-BCT về tiêu chí thành lập cơ sở bán lẻ, cùng biểu đồ phân tích cơ cấu thị phần bán lẻ hiện đại tại Thành phố Hồ Chí Minh nơi khối ngoại đang kiểm soát trên 35% doanh số kênh siêu thị và đại siêu thị. Ý nghĩa thực tiễn của phát hiện này chỉ rõ rằng nếu không sớm lượng hóa tiêu chí kiểm tra nhu cầu kinh tế và kiểm soát hoạt động mua bán sáp nhập, thị trường bán lẻ nội địa sẽ đối diện với nguy cơ bị thâu tóm hoàn toàn, gây tổn hại trực tiếp đến quyền lợi của các nhà sản xuất vừa và nhỏ tại Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số 23/2007/NĐ-CP nhằm đồng bộ hóa toàn diện với Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014. Chính phủ và Bộ Công Thương cần tái định nghĩa rõ ràng các thuật ngữ cơ sở bán lẻ, bán buôn, bán lẻ hàng hóa theo chuẩn mực quốc tế, loại bỏ sự chồng chéo về thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, với mục tiêu cắt giảm tối thiểu 30% thời gian thực hiện thủ tục hành chính cho nhà đầu tư trước quý IV giai đoạn tới.

Thứ hai, xây dựng bộ tiêu chí định lượng minh bạch cho công cụ Kiểm tra nhu cầu kinh tế. Bộ Công Thương cần ban hành thông tư hướng dẫn cụ thể các ngưỡng chỉ số khách quan: mật độ tối thiểu 30.000 dân trên một cơ sở bán lẻ quy mô trên 500 m2, bán kính cách nhau giữa hai đại siêu thị tối thiểu 3 km, và giới hạn thời gian thẩm định của Hội đồng kiểm tra nhu cầu kinh tế cấp tỉnh tối đa 20 ngày làm việc. Đồng thời, chỉ nên áp dụng kiểm tra nhu cầu kinh tế đối với các mặt hàng tiêu dùng nhạy cảm có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực và sản xuất nội địa.

Thứ ba, siết chặt khung pháp lý kiểm soát hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực phân phối bán lẻ. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phối hợp cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thiết lập cơ chế rà soát bắt buộc đối với các giao dịch thâu tóm chuỗi bán lẻ có thị phần kết hợp vượt ngưỡng 30% tại một thị trường địa lý liên quan, ngăn chặn tình trạng lách luật chuyển đổi quyền sở hữu nhằm độc quyền kênh phân phối.

Thứ tư, triển khai cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia về quy hoạch mạng lưới hạ tầng thương mại bán lẻ. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trọng điểm là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, cần công khai 100% bản đồ quy hoạch mạng lưới thương mại bán lẻ đến năm 2025 và tầm nhìn 2030, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động tra cứu địa điểm đầu tư hợp pháp mà không phải chờ đợi các văn bản chấp thuận riêng lẻ từ cơ quan công quyền.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước: Các cán bộ hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có thể ứng dụng luận văn làm tài liệu tham khảo thực tiễn để sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng quy chế làm việc chuẩn hóa cho Hội đồng kiểm tra nhu cầu kinh tế cấp tỉnh.

Nhóm doanh nghiệp bán lẻ và hiệp hội ngành nghề: Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài, doanh nghiệp bán lẻ nội địa, Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam có thể khai thác các phân tích pháp lý trong đề tài để xây dựng chiến lược phát triển chuỗi cơ sở bán lẻ, quản trị rủi ro cấp phép đầu tư và bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong các thương vụ mua bán sáp nhập chuỗi cung ứng.

Nhóm luật sư và chuyên gia tư vấn đầu tư: Các công ty luật chuyên sâu về mảng kinh doanh thương mại và đầu tư quốc tế có thể sử dụng các phân tích so sánh đối chiếu trong luận văn làm cẩm nang hướng dẫn khách hàng vượt qua các rào cản pháp lý khi thâm nhập thị trường phân phối tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhóm viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Thương mại Quốc tế tại các trường đại học khối luật và kinh tế có thể sử dụng luận văn làm nguồn học liệu chuyên khảo chuyên sâu về cam kết dịch vụ phân phối hậu gia nhập tổ chức thương mại toàn cầu.

Câu hỏi thường gặp

Công cụ kiểm tra nhu cầu kinh tế là gì và trường hợp nào được miễn trừ khi mở cơ sở bán lẻ? Kiểm tra nhu cầu kinh tế là cơ chế xem xét cấp phép lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dựa trên số lượng cơ sở, mật độ dân cư và quy hoạch địa phương. Doanh nghiệp được miễn kiểm tra khi cơ sở bán lẻ có diện tích dưới 500 m2 tại khu vực đã hoàn thành hạ tầng theo quy hoạch thương mại của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Điều 7 Thông tư số 08/2013/TT-BCT.

Những nhóm mặt hàng nào nhà đầu tư nước ngoài bị cấm phân phối tại thị trường Việt Nam? Theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, nhà đầu tư nước ngoài tuyệt đối không được thực hiện quyền phân phối đối với 7 nhóm mặt hàng chiến lược: thuốc lá và xì gà, sách báo tạp chí và vật phẩm ghi hình, kim loại quý và đá quý, dược phẩm, thuốc nổ, dầu thô cùng dầu đã qua chế biến, gạo và các loại đường mía, đường củ cải.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới 51% có phải chịu hạn chế mở cơ sở bán lẻ không? Căn cứ Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014, tổ chức kinh tế có tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài dưới 51% vốn điều lệ sẽ thực hiện điều kiện và thủ tục đầu tư theo quy định áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước, do đó không phải trải qua thủ tục thẩm định kiểm tra nhu cầu kinh tế khi thành lập chuỗi cơ sở bán lẻ tiếp theo.

Tại sao các tập đoàn bán lẻ quốc tế ưu tiên mở rộng quy mô thông qua hình thức mua bán sáp nhập? Hoạt động mua bán sáp nhập giúp các tập đoàn nước ngoài thâu tóm ngay mạng lưới mặt bằng đắc địa, thương hiệu sẵn có và tệp khách hàng hiện hữu mà không cần tốn thời gian từ 1 đến 2 năm để xin cấp phép từng điểm bán lẻ mới, đồng thời vượt qua được các rào cản kiểm tra nhu cầu kinh tế khắt khe của cơ quan quản lý.

Cơ chế giải quyết khiếu nại về cấp phép cơ sở bán lẻ thứ hai hiện nay có tồn tại hạn chế gì? Pháp luật hiện hành chưa thiết lập quy trình giải quyết khiếu nại độc lập khi nhà đầu tư bị Hội đồng kiểm tra nhu cầu kinh tế cấp tỉnh bác đơn. Khoản 2 Điều 23 Thông tư số 08/2013/TT-BCT chỉ quy định phản ánh vướng mắc về Bộ Công Thương, tạo ra sự đùn đẩy trách nhiệm giữa cơ quan quản lý trung ương và chính quyền địa phương nơi cấp phép.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa toàn diện hệ thống lý luận về dịch vụ bán lẻ và xác lập rõ địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thực thi các cam kết thương mại đa phương.
  • Chỉ ra 4 nhóm xung đột thể chế then chốt giữa cam kết quốc tế, Nghị định số 23/2007/NĐ-CP, Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
  • Làm sáng tỏ thực trạng vận hành của công cụ kiểm tra nhu cầu kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và nguy cơ lách luật gia tăng thị phần thông qua hình thức góp vốn mua cổ phần.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá có tính định lượng cao nhằm minh bạch hóa tiêu chí cấp phép mạng lưới bán lẻ và tăng cường kiểm soát tập trung kinh tế.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan lập pháp khẩn trương xây dựng Nghị định thay thế khung khổ pháp lý cũ trong vòng 12 tháng tới để tạo hành lang thông thoáng cho thị trường phát triển bền vững.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể tiếp cận toàn văn luận văn thạc sĩ luật học để tra cứu chi tiết hệ thống bảng biểu số liệu, danh mục văn bản quy phạm pháp luật và các phân tích tình huống thực tế chuyên sâu.