Đặt vấn đề Chó là một trong những loài động vật được con người thuần hóa sớm nhất, chúng vai trò rất quan trọng trong phục vụ đời sống sinh hoạt của con người. Chúng có nhiều phẩm chất đáng quý như: trung thành, thông minh, nhanh nhẹn, thính giác và khứu giác rất phát triển… và còn được coi là những chiến binh, những người hùng dũng cảm. Là người bạn luôn luôn ở cạnh xua tan những mệt mỏi và bảo vệ cho chúng ta, bên cạnh đó chúng còn tham gia vào các công việc phức tạp, đầy rãy nguy hiểm như: an ninh quốc phòng (truy bắt tội phạm, rà soát bom mìn…), nghệ thuật, y học,… Hiện nay, do nhu cầu và sở thích của con người, một lượng lớn các giống chó được nhập khẩu và nhân giống ở Việt Nam làm cho giống chó ngày càng đa dạng, phong phú. Bên cạnh đó, việc chăm sóc và nuôi dưỡng cũng là mối quan tâm lớn của chủ vật nuôi.
Mặc dù, đã có vắc-xin tiêm phòng và phác đồ hỗ trợ điều trị nhưng bệnh Pravo trên chó vẫn xảy ra và ngày càng diễn biến phức tạp. Đặc biệt, với các giống chó quý được vận chuyển từ nhiều quốc gia khác về Việt Nam do điều kiện khí hậu và môi trường sống nên chúng dễ bị nhiễm các loại bệnh như: bệnh nội khoa, ngoại khoa, sản khoa, truyền nhiễm, ký sinh trùng… Trong đó nguy hiểm nhất và tỷ lệ chết nhiều nhất là bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvo virus. Bệnh này thường gặp nhất ở chó. Vào những năm 1970 Parvo virus lần đầu tiên được biết đến là một tác nhân gây bệnh đường ruột của chó trên toàn thế giới.
Kể từ khi xuất hiện, Parvovirut đã gây ra đại dịch. Bệnh thể hiện triệu chứng lâm sàng như: niêm mạc miệng và mắt nhợt nhạt, nôn mửa, sốt và tiêu chảy có máu, phân có mùi tanh đặc trưng. Vì vậy vấn đề cấp thiết mà chúng ta phải làm trong tình hình hiện tại là tìm ra biện pháp chẩn đoán nhanh nhất, chính xác nhất, để căn cứ 2 vào đó đưa ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh Parvovirus một cách có hiệu quả. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của BCN khoa, giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện đề tài: “Đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng của bệnh Parvo ở chó tại phòng khám thú y Phước Dung, Thịnh Đán, Thái Nguyên và phác đồ điều trị”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 2. Mục đích - Xác định được tình hình nhiễm bệnh Pravo trên chó được đưa đến thăm khám tại Phòng khám thú y Phước Dung, Thịnh Đán, Thái Nguyên. - Biết cách phòng, chẩn đoán và trị bệnh Pravo trên chó đến khám tại Phòng khám thú y Phước Dung, Thịnh Đán, Thái Nguyên. Yêu cầu của chuyên đề - Làm quen với công tác thăm khám, điều trị bệnh tại Phòng khám thú y Phước Dung, Thịnh Đán, Thái Nguyên.
- Học tập cách chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh cho chó tại Phòng khám thú y Phước Dung, Thịnh Đán, Thái Nguyên. - Xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh, tỷ lệ chết do mắc bệnh Pravo trên chó đến khám tại Phòng khám thú y Phước Dung, Thịnh Đán, Thái Nguyên. - Biết cách phòng và điều trị bệnh Pravo cho chó tại Phòng khám thú y Phước Dung, Thịnh Đán, Thái Nguyên. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập Phòng khám thú y Phước Dung, Thịnh Đán, Thái Nguyên được đưa vào hoạt động từ năm 2020. Ngoài công việc thăm khám, phòng bệnh và điều trị bệnh cho động vật đặc biệt là cho chó, mèo. Còn có thên những dịch vụ chăm sóc, spa làm đẹp cho thú cảnh trong khu vực thành phố Thái Nguyên và các huyện lân cận… * Chức năng, nhiệm vụ: - Tư vấn, khám, điều trị, phòng bệnh và các dịch vụ về chăn nuôi thú y cho chó, mèo như phụ kiện, tắm gội, làm đẹp trên địa bàn thành phố và các huyện lân cận. - Là địa điểm giúp sinh viên thực tập và nghiên cứu và học tập nhằm nâng cao tay nghề, hướng tới phát triển ngành chăn nuôi thú cảnh nói riêng và ngành chăn nuôi thú y nói chung.
* Cơ cấu phòng khám: - Hiện nay nhân sự của phòng khám gồm có: + Chủ cơ sở gồm anh Hoàng Trọng Phước và chị Vũ Thị Kim Dung + Hai sinh viên thực tập và một nhân viên bán hàng. * Cơ sở vật chất: Trong thời gian hoạt động, phòng khám đã đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại cơ bản đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh trên đàn chó mèo trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Phòng khám có đầy đủ các trang thiết bị như máy siêu sâm, xét nghiệm máu, máy chụp X- Quang, máy trợ thở… có không gian riêng cho chó mèo và khu cách ly điều trị bệnh tương đối sạch sẽ đảm bảo vệ sinh và vấn đề phúc lợi động vật. Cơ sở khoa học của chuyên đề 2.
Một số đặc điểm sinh lý của chó Thân nhiệt (0C) Theo Cù Xuân Dần (1977)[2] trạng thái sinh lý bình thường chó có thân nhiệt là 38 - 390C.Tình trạng bệnh lý của chó được thể hiện qua thân nhiệt và có thể thay đổi tùy vào tính chất và mức độ của bệnh. Tô Du và Xuân Giao (2006)[5] cho biết, nhiệt độ bình thường của chó thay đổi bởi nhiều yếu tố như tuổi (thân nhiệt của con non cao hơn con trưởng thành), giới tính (thân nhiệt con cái cao hơn con đực), thân nhiệt của chó sẽ tăng cao hơn bình thường khi chó vận động nhiều hoặc có thai … Để xác định được con vật có bị sốt hay không thông qua việc kiểm tra thân nhiệt của con vật. Tình trạng nhiệt độ tăng từ 1 - 20C là sốt nhẹ. Trường hợp sốt cao thân nhiệt sẽ tăng từ 2 - 30C gây nguy hiểm tới con vật.
Qua đó có thể chẩn đoán được nguyên nhân, tính chất và mức độ tiên lượng của con vật qua đó có thể đánh giá được hiệu quả điều trị tốt hay xấu. Tần số hô hấp Theo Vũ Triệu An (1978)[1] tần số hô hấp được tính là số lần thở trong 1 phút, thường đếm số lần thở trong 2 - 3 phút sau đó lấy trung bình. Căn cứ vào hõm hông, thành ngực, thành bụng, xương cánh mũi khi thở để tính tần số hô hấp. Tần số hô hấp còn lệ thuộc vào cường độ trao đổi chất của cơ thể, tuổi tác, tầm vóc, trạng thái sinh lý, thời tiết và tình trạng bệnh lý.
Tần số hô hấp ở trạng thái sinh lý bình thường được tính trung bình trên chó là 10 - 30 lần/phút. Từ 18 - 20 lần/phút đối với chó con; Từ 10 - 20 lần/phút đối với chó trưởng thành, giống chó to, còn với chó nhỏ tần số sẽ từ 20 - 30 lần/phút. Tần số tim Tần Tần số tim mạch đuợc tính bằng số lần co bóp của tim trong thời 5 gian 1 phút (lần/phút). Khi tim hoạt động mỏm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực, lúc này ta có thể sử dụng dụng cụ thăm khám như ống nghe thực hiện bằng cách áp vào thành ngực vùng tim hoạt động để nghe và đếm tiếng tim.
Trong quá trình hoạt động co bóp tim sẽ đẩy một lượng máu vào động mạch làm cho mạch quản lúc này mở rộng, thành mạch quản trở nên căng cứng. Nhờ vào tính chất đàn hồi của mạch quản và khả năng tự co bóp lại tạo nên hiện tượng động mạch đập. Dựa vào tính chất trên cho ta thấy tần số mạch có thể tính được sẽ tương đương với tần số nhịp đập. Ở trạng thái sinh lý bình thường: chó nhỏ có nhịp tim từ 100 - 130 lần/phút, chó lớn từ 70 - 100 lần/phút (Nguyễn Văn Thanh và cs.
Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó trưởng thành Máu được tạo ra từ lá lách một bộ phận tạo máu của cơ thể. Máu còn tham gia vào hầu hết các quá trình sinh lý, sinh hóa của cơ thể. Máu đóng vai trò vận chuyển oxy, các chất dinh dưỡng và nhận các chất cặn bã đến các cơ quan bài tiết thải ra ngoài. Máu chức năng điều hòa thân nhiệt, duy trì cân bằng nội mô, điều hòa thể dịch, … Đặc biệt máu còn chứa nhiều loại kháng thể, các loại bạch cầu tham gia vào các chức năng bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh và vi khuẩn.
Vì vậy việc xét nghiệm máu là phương pháp cơ bản được sử dụng để đánh giá tình trạng sức khỏe của con vật cũng như giúp việc chẩn đoán bệnh một cách dễ dàng hơn. Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó khỏe TT Chỉ tiêu Đơn vị tính Trị số 1 Hồng cầu 106/mm 5,5 - 8,5 2 Bạch cầu 103/mm3 6 - 18 3 Hemoglobin g/100ml 12 - 8 4 Hematocrite ml/100ml 37 - 55 5 ASAT (aspartate aminotransferase) UI/I < 20 6 6 ALAT (alanine aminotransferase) UI/I < 30 7 Urea g/l 0,2 - 0,5 8 Bilirubine Mg/l 1-6 9 Creatine g/l 10 - 20 10 Protein tổng số g/l 54 - 71 11 Albumin g/l 23 - 32 12 Globulin g/l 27 - 44 (Nguồn: Harrison, 1993) 2. Bệnh Parvo ở chó 2. Đặc điểm của bệnh Canine Parvovirus type 2 (CPV-2) là một tác nhân gây bệnh quan trọng của chó nhà và chó hoang dã trên toàn thế giới, bệnh xuất hiện vào những năm 1970, gây nên tình trạng viêm ruột ở chó (Nguyễn Thị Yến Mai và cs.
Đặc điểm bệnh do Parvovirus gồm có tiêu chảy, phân lẫn máu, số lượng bạch cầu giảm, tỷ lệ tử vong trên chó con cao. Đây là bệnh cơ hội gây những tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi chó ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới (Nguyễn Như Pho 2003)[14]. Canine Parvovirus (CPV) được phát hiện vào cuối những năm 1970, được xác nhận là dịch lần đầu tiên vào năm 1978 nhưng chỉ trong vòng một đến hai năm sau đó nó đã trở thành đại dịch của chó trên toàn thế giới. Bệnh thường xảy ra ở dạng nhỏ hoặc nhiều ổ dịch.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2006)[11], bệnh xuất hiện vào mùa thu năm 1977 ở Texas đến mùa hè năm 1978 bệnh lan rộng ra nhiều vùng khác nhau Hoa Kỳ và Canada. Đầu năm 1979 bệnh xuất hiện ở Úc, Bỉ, Hà Lan, Anh, Pháp. Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở nước ta vào năm 1990 trên chó nghiệp vụ.
7 Những con vật chỉ mẫn cảm với Giống Parvovirus gồm có: các con vật thuộc họ nhà chó như chó nhà, chó sói, sói có lông bờm cổ, cáo ăn cua, gấu mèo Mỹ.