Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Trương Quang Bình với đề tài "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học tật khúc xạ ở học sinh tiểu học tỉnh Quảng Nam và hiệu quả một số biện pháp can thiệp hạn chế tiến triển cận thị (2023-2025)" được thực hiện tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, thuộc chuyên ngành Dịch tễ học (mã số 9720117), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lương Mai Anh và PGS. Phạm Văn Tần.

Về tính cấp thiết, tật khúc xạ (đặc biệt là cận thị) đang gia tăng nhanh chóng và trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được tác giả dẫn giải, rối loạn khúc xạ chiếm khoảng 42% nguyên nhân suy giảm thị lực toàn cầu; tổn thất năng suất lao động hàng năm liên quan đến suy giảm thị lực do cận thị ước tính là 244 tỷ đô la Mỹ và do viễn thị là 25,4 tỷ đô la Mỹ. Dự báo đến năm 2050, thế giới sẽ có khoảng 4,758 tỷ người mắc cận thị, trong đó 938 triệu người bị cận thị nặng với nguy cơ gặp phải các biến chứng gây mù lòa như thoái hóa hắc võng mạc, bong võng mạc, đục thủy tinh thể, glôcôm và nhược thị. Tại Việt Nam, tỷ lệ tật khúc xạ học đường dao động trong khoảng 40–50% ở khu vực thành thị và 10–15% ở nông thôn. Trẻ em khởi phát cận thị ở lứa tuổi 7–8 tuổi có nguy cơ tiến triển thành cận thị nặng cao gấp gần 3 lần so với nhóm khởi phát muộn hơn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù đã có các công trình điều tra tật khúc xạ tại một số thành phố lớn, song tại tỉnh Quảng Nam – một địa bàn có sự phân hóa địa lý rõ rệt từ vùng núi cao đến đồng bằng ven biển – chưa có nghiên cứu dịch tễ học hệ thống nào về thực trạng tật khúc xạ ở lứa tuổi học sinh tiểu học cũng như chưa triển khai đánh giá thực nghiệm các mô hình can thiệp kiểm soát tiến triển cận thị trong môi trường học đường tại địa phương.

Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu và giải quyết hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học tật khúc xạ ở học sinh 7 đến 8 tuổi tại một số trường tiểu học tỉnh Quảng Nam năm 2023.
  2. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp nhằm hạn chế tiến triển tật khúc xạ ở học sinh tiểu học 7 đến 9 tuổi (giai đoạn 2023–2025).

Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học lứa tuổi 7–8 tuổi (khối lớp 2 và lớp 3 tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu năm 2023, theo dõi dọc đến 7–9 tuổi khi lên khối lớp 4 và lớp 5 vào năm 2025). Không gian nghiên cứu diễn ra tại các trường tiểu học thuộc ba địa bàn đại diện cho các vùng sinh thái - địa lý của tỉnh Quảng Nam gồm: thành phố Tam Kỳ (khu vực đô thị/đồng bằng), huyện Tiên Phước (khu vực trung du) và huyện Bắc Trà My (khu vực miền núi). Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ năm 2023 đến năm 2025.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa các y văn trong nước và quốc tế liên quan đến tình hình tật khúc xạ và các giải pháp can thiệp.

Về quy mô toàn cầu và khu vực:

  • Các phân tích gộp quốc tế ghi nhận tỷ lệ mắc tật khúc xạ chưa chuẩn hóa là 3,41/1.000 ở khu vực Tây Thái Bình Dương và đạt 5,85/1.000 tại Đông Nam Á (theo phân tích trên 302.219 trẻ em).
  • Tại Châu Âu, tỷ lệ cận thị ở trẻ em 5–7 tuổi tại Tây Ban Nha tăng từ 17% (năm 2016) lên 20% (năm 2017); nghiên cứu của Olavi Parssinen (2012) tại Phần Lan ghi nhận tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh 14–15 tuổi là 21%; nghiên cứu NICER của tác giả McCullough và cộng sự (2020) tại Anh theo dõi biến thiên khúc xạ và chiều dài trục nhãn cầu trong 9 năm.
  • Tại Châu Á, khu vực Đông Á được xem là điểm nóng khi có tới 80% học sinh trung học cơ sở mắc cận thị (với 20% cận thị nặng). Tác giả Lam và cộng sự (1999) tại Hồng Kông ghi nhận tốc độ tiến triển cận thị trung bình ở học sinh tiểu học là -0,63 ± 0,59 D/năm. Nghiên cứu đoàn hệ SCORM của Saw và cộng sự (2005) tại Singapore trên 981 học sinh 7–9 tuổi cho thấy tỷ lệ mới mắc cận thị tích lũy trong 3 năm là 47,7% ở nhóm 7 tuổi, với tốc độ tiến triển trung bình là -2,40 D. Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Rohit Saxena và cộng sự (2015) trên 9.884 học sinh 5–15 tuổi ghi nhận tỷ lệ tật khúc xạ là 14,5% (cận thị chiếm 13,1%); Kumar và cộng sự (2025) tổng hợp 43 công trình chỉ ra tỷ lệ tật khúc xạ chung ở học sinh Ấn Độ là 11%. Tại Saudi Arabia, Fahd Abdullah Al Wadaani (2013) ghi nhận tỷ lệ 13,7%; tại Iran, Yekta và cộng sự (2009) công bố tỷ lệ cận thị 4,35%, viễn thị 5,04% và loạn thị 11,79%.
  • Nghiên cứu COMET (COSMICC) tại Hoa Kỳ theo dõi 362 trẻ em trong 14 năm ghi nhận mức tăng độ cận trung bình 0,50 D/năm khi đeo kính đơn tròng; nghiên cứu CLEERE trên 4.556 trẻ em chỉ ra tỷ lệ mới mắc cận thị khác biệt theo chủng tộc (cao nhất ở gốc Á: 27,3%).
  • Tại Việt Nam, các công trình của Đỗ Như Hơn (2014) và Bệnh viện Mắt Trung ương (2017) chỉ ra toàn quốc có gần 3 triệu trẻ em 6–15 tuổi mắc tật khúc xạ; các nghiên cứu tại Hà Nội (năm 2001, 2004), Hải Phòng (giai đoạn 2002–2004), Thành phố Hồ Chí Minh (Trần Thị Hải Yến năm 2006; khảo sát Quận 1 năm 2021 với tỷ lệ cận thị 27,1%), An Giang (Hồ Thị Mộng Bích năm 2014), Đà Nẵng (Trần Văn Nhật năm 2004; Hoàng Hữu Khôi năm 2013) đều phản ánh xu hướng gia tăng tật khúc xạ theo khối lớp và sự chênh lệch lớn giữa khu vực đô thị và nông thôn.

Về các yếu tố liên quan: Tác giả dẫn giải các chứng cứ về di truyền từ nghiên cứu của Pozarickij và cộng sự (146 biến thể gen), Liu YL (2022), Hoàng Hữu Khôi và Hoàng Ngọc Chương (2012, ghi nhận bố mẹ mắc tật khúc xạ làm tăng nguy cơ ở con lên 2,2 lần), Vũ Quang Dũng (2008, OR = 2,3), He (2021). Đồng thời, các yếu tố môi trường học đường và hành vi nhìn gần được tổng hợp từ công trình của Jenney M. Ip và Huynh SC (2008), Shah và cộng sự (2017), Pärssinen và Kauppinen (2019), Young và cộng sự (1969), Zylbermann và cộng sự (1993), Hoàng Văn Tiến (2006), Vũ Thị Hoàng Lan (2012).

Về các biện pháp can thiệp: Luận án rà soát các nghiên cứu can thiệp không dùng thuốc và dùng thuốc, bao gồm huấn luyện thị giác (Soundari KU, Tiwari); dùng Atropine nồng độ thấp từ 0,01% đến 0,05% (thử nghiệm ATOM 1, ATOM 2, LAMP tại Hồng Kông, Li và cộng sự năm 2024, Nguyễn Thị Thu Hiền năm 2021); sử dụng Pirenzepine; điều chỉnh quang học bằng kính gọng, kính tiếp xúc thấm khí RGP, kính Orthokeratology (Ortho-K); phẫu thuật khúc xạ và cấy chỉ y học cổ truyền (Bùi Tiến Hưng và cộng sự, 2024). Các mô hình can thiệp cộng đồng trường học được điểm lại gồm: nghiên cứu tăng thời gian hoạt động ngoài trời của Wu và cộng sự (2018) và thử nghiệm tại Quảng Châu (Trung Quốc); nghiên cứu can thiệp LEPSA của Hoàng Hữu Khôi và cộng sự (2016) tại Đà Nẵng; mô hình PRECEDE-PROCEED của Hoàng Ngọc Chương và cộng sự (2012) tại Thừa Thiên Huế; can thiệp của Trần Đức Nghĩa (2019) tại Điện Biên Phủ; cải tạo bàn ghế và ánh sáng của Phạm Thanh Vũ và cộng sự (2024) tại Đồng bằng sông Cửu Long; và truyền thông giáo dục sức khỏe của Trần Tất Thắng và cộng sự (2023) tại Nghệ An.

Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các bằng chứng dịch tễ học và lý thuyết can thiệp hành vi học đường, tập trung giải quyết khoảng trống thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam thông qua việc kết hợp đánh giá thực trạng dịch tễ học tại ba vùng địa dư và thử nghiệm giải pháp can thiệp dự phòng tiến triển cận thị dựa vào trường học và gia đình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và tiêu chuẩn chẩn đoán

Luận án dựa trên các khái niệm quang học nhãn khoa và sinh lý học thị giác:

  • Mắt chính thị: hệ quang học không điều tiết hội tụ tia sáng song song từ vô cực đúng trên võng mạc.
  • Cận thị: công suất khúc xạ quá cao so với chiều dài trục trước - sau nhãn cầu, hình ảnh hội tụ trước võng mạc.
  • Viễn thị: công suất khúc xạ yếu so với chiều dài trục nhãn cầu, hình ảnh hội tụ sau võng mạc.
  • Loạn thị: các kinh tuyến khúc xạ không đều nhau, tạo thành chùm tia Sturm gồm hai tiêu tuyến vuông góc.

Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định dựa trên độ cầu tương đương (Spherical Equivalent - SE) được tính bằng công thức:

$$\text{SE} = \text{Độ khúc xạ cầu} + \frac{1}{2} \text{Độ khúc xạ trụ}$$

Tiêu chuẩn phân loại lâm sàng áp dụng trong luận án:

  • Cận thị: $\text{SE} \le -0,50\text{ D}$ (nhẹ: $< -3,00\text{ D}$; trung bình: $-3,00\text{ D}$ đến $-6,00\text{ D}$; nặng: $> -6,00\text{ D}$).
  • Viễn thị: $\text{SE} \ge +0,50\text{ D}$ (nhẹ: $\le +2,00\text{ D}$; trung bình: $+2,25\text{ D}$ đến $+5,00\text{ D}$; nặng: $> +5,00\text{ D}$).
  • Loạn thị: $\text{Cyl} \ge 0,75\text{ D}$ (nhẹ: $< 1,00\text{ D}$; trung bình: $1,00\text{ D}$ đến $2,00\text{ D}$; nặng: $2,25\text{ D}$ đến $3,00\text{ D}$; rất nặng: $> 3,00\text{ D}$).

Cơ chế sinh học giải thích tác động của môi trường được luận án áp dụng gồm: giả thuyết cường độ ánh sáng, thuyết ánh sáng - dopamine (ánh sáng kích thích giải phóng dopamine võng mạc ức chế giãn dài trục nhãn cầu), thuyết vitamin D và thuyết độ sâu tiêu cự khi co đồng tử. Cơ sở lý thuyết can thiệp dựa trên lý thuyết chuyển đổi hành vi, mô hình chẩn đoán PRECEDE-PROCEED và phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề lấy người học làm trung tâm (LEPSA).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Thiết kế nghiên cứu được chia làm hai giai đoạn tương ứng với hai mục tiêu:

  • Mục tiêu 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện năm 2023 trên học sinh 7–8 tuổi tại các trường tiểu học được chọn ở ba khu vực thuộc tỉnh Quảng Nam (Tam Kỳ, Tiên Phước, Bắc Trà My). Kỹ thuật thu thập bao gồm đo thị lực không kính (UDVA) bằng bảng thị lực chuẩn; khám khúc xạ khách quan (máy đo khúc xạ tự động, soi bóng đồng tử) kết hợp khúc xạ chủ quan; khảo sát điều kiện vệ sinh trường học (cường độ ánh sáng bằng máy đo lux, kích thước bàn ghế, bảng viết) đối chiếu theo Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT và Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT; phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cấu trúc về kiến thức, thói quen học tập, thời gian tiếp xúc thiết bị điện tử và tiền sử gia đình.
  • Mục tiêu 2: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, theo dõi dọc trong 2 năm (2023–2025). Học sinh được chia thành nhóm can thiệp và nhóm chứng (không can thiệp). Gói can thiệp bao gồm: giáo dục truyền thông thay đổi nhận thức, điều chỉnh tư thế ngồi học, cải thiện vệ sinh thị giác (quy tắc nghỉ mắt, khoảng cách đọc sách 35–40 cm, hạn chế màn hình điện tử), tăng cường thời gian vận động ngoài trời, phối hợp phụ huynh giám sát góc học tập tại nhà và hướng dẫn nhà trường cải thiện điều kiện chiếu sáng lớp học.

Xử lý số liệu: Số liệu được nhập và làm sạch, phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS. Các kỹ thuật phân tích gồm: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn), kiểm định Chi-bình phương so sánh các tỷ lệ, phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến để xác định tỷ số chênh (Odds Ratio - OR) cùng khoảng tin cậy 95% (95% CI). Đánh giá hiệu quả can thiệp thông qua chỉ số hiệu quả can thiệp và phương pháp phân tích sai biệt trong sai biệt (Difference-in-Differences - DID). Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, có văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý và sự đồng thuận của phụ huynh học sinh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tập trung trình bày hệ thống lý luận về quang học mắt, dịch tễ học tật khúc xạ và phân tích thực trạng địa bàn nghiên cứu tỉnh Quảng Nam:

  • Luận giải cơ chế bệnh sinh, phân loại cận thị, viễn thị, loạn thị và tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trên SE.
  • Tổng hợp các yếu tố nguy cơ trường học theo các tiêu chuẩn quốc gia:
Cỡ số bàn ghế Chiều cao học sinh (cm) Chiều cao ghế (cm) Chiều cao bàn (cm) Hiệu số chiều cao bàn - ghế (cm)
I 100 - 109 26 45 19
II 110 - 119 28 48 20
III 120 - 129 30 51 21
IV 130 - 144 34 57 23
V 145 - 159 37 63 26
VI 160 - 175 41 69 28

(Nguồn: Trích xuất Bảng 1.1 và Bảng 1.2 trong luận án, tổng hợp từ Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT)

  • Thực trạng công tác y tế trường học và vệ sinh học đường tại tỉnh Quảng Nam: Năm học 2023–2024, toàn tỉnh có 130.542 học sinh tiểu học phân bố tại 241 trường. Tỷ lệ trường có lập sổ theo dõi sức khỏe học sinh đạt 92,9% (224 trường), nhưng chỉ có 66% số trường có nhân viên y tế chuyên trách (159 trường), nhiều nơi phải bố trí cán bộ trạm y tế xã kiêm nhiệm. Về điều kiện vệ sinh, các chỉ số kích thước bàn ghế và diện tích cơ bản đạt, nhưng hệ thống chiếu sáng chung và đèn chiếu bảng chưa đạt chuẩn (thiếu đèn chiếu bảng chuyên dụng lắp cách tường 0,6 m và cao hơn mép bảng 0,3 m có máng che chống lóa).

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu dịch tễ học và triển khai can thiệp:

  • Xác định phương pháp chọn mẫu phân tầng đại diện cho ba vùng: thành phố Tam Kỳ, huyện Tiên Phước, huyện Bắc Trà My.
  • Thiết lập hệ thống biến số nghiên cứu: nhóm biến số nhân khẩu học, nhóm biến số vệ sinh học đường (cường độ sáng lux, kích thước bàn ghế, bảng viết), nhóm biến số hành vi (thời gian tự học, thời gian học thêm, xem ti vi, chơi điện tử, đọc sách, hoạt động thể lực ngoài trời) và nhóm biến số thị lực khúc xạ (thị lực mắt phải, thị lực mắt trái, độ khúc xạ cầu, độ trụ, SE).
  • Quy trình can thiệp: Thiết lập mô hình phối hợp giữa nhà trường, trạm y tế và gia đình; xây dựng tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe thị giác; tổ chức hướng dẫn bài tập mắt và giám sát việc duy trì khoảng cách nhìn gần; đánh giá lại sau 2 năm can thiệp bằng các kỹ thuật đo khúc xạ tiêu chuẩn.
  • Kiểm soát sai số thông qua việc chuẩn hóa trang thiết bị đo (máy khúc xạ, bảng thị lực, máy đo lux), tập huấn thống nhất kỹ thuật viên và quy trình làm mù trong thu thập dữ liệu đo khúc xạ.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung Chương 3 được cấu trúc theo hai phần tương ứng với hai mục tiêu nghiên cứu:

  • Thực trạng dịch tễ học và các yếu tố liên quan: Phản ánh tỷ lệ hiện mắc tật khúc xạ, cơ cấu các tật cận thị, loạn thị, viễn thị ở học sinh 7–8 tuổi; phân bố mức độ cận thị (nhẹ, trung bình, nặng) và thị lực từng mắt; so sánh tỷ lệ mắc giữa nam và nữ, giữa các khu vực địa dư (đô thị Tam Kỳ, trung du Tiên Phước, miền núi Bắc Trà My). Phân tích đơn biến và mô hình hồi quy đa biến xác định các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: thời gian học thêm, thời gian tự học kéo dài, thiếu góc học tập riêng, ngồi sai tư thế, chỗ ngồi học thiếu ánh sáng, nhìn bảng bị lóa, thời gian tiếp xúc màn hình điện tử (xem tivi, chơi game), thói quen nằm đọc truyện, thiếu hoạt động thể lực ngoài trời và tiền sử gia đình có bố mẹ mắc tật khúc xạ.
  • Kết quả can thiệp: Đánh giá sự chuyển biến về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống tật khúc xạ của học sinh và phụ huynh trước và sau can thiệp (tăng tỷ lệ nhận biết đúng, giảm tỷ lệ ngồi sai tư thế, giảm thời gian sử dụng thiết bị điện tử, cải thiện chiếu sáng góc học tập). Đánh giá sự khác biệt về mức độ tiến triển cận thị (chênh lệch độ cầu tương đương $\Delta\text{SE}$) và tỷ lệ cận thị mới phát sinh giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng theo từng khối lớp qua hai năm theo dõi (2023–2025) bằng chỉ số DID.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, so sánh các phát hiện của luận án với các nghiên cứu trong nước và quốc tế:

  • Luận giải sự khác biệt về tỷ lệ tật khúc xạ theo lứa tuổi và vùng địa dư tại Quảng Nam, đối chiếu với các nghiên cứu tại Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phân tích cơ chế tác động của các yếu tố nguy cơ hành vi và điều kiện vệ sinh học đường địa phương, đặc biệt là thực trạng thiếu nhân viên y tế trường học chuyên trách và việc bố trí chiếu sáng lớp học chưa đạt chuẩn.
  • Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của mô hình can thiệp không dùng thuốc tại trường học dựa trên tiếp cận thay đổi hành vi và cải thiện môi trường; so sánh mức độ hạn chế tiến triển độ cận với các can thiệp quang học và dược lý (như Atropine, Ortho-K) được ghi nhận trong y văn.
  • Nêu rõ các điểm mới của đề tài và chỉ ra các hạn chế trong quá trình triển khai nghiên cứu tại thực địa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn

  • Luận án cung cấp bộ số liệu dịch tễ học toàn diện, có tính hệ thống đầu tiên về thực trạng tật khúc xạ và phân bố độ khúc xạ ở học sinh tiểu học (lứa tuổi 7–8 tuổi) trên các vùng sinh thái - địa lý đặc thù của tỉnh Quảng Nam (đô thị, trung du và miền núi).
  • Xác định và lượng hóa các yếu tố nguy cơ dịch tễ học liên quan đến tật khúc xạ học đường tại địa phương, bao gồm cả các yếu tố môi trường trường học (chiếu sáng, bàn ghế), thói quen sinh hoạt (nhìn gần, thiết bị điện tử) và yếu tố gia đình.
  • Thiết kế, triển khai và chứng minh tính hiệu quả của mô hình can thiệp phòng chống tiến triển cận thị tích hợp dựa vào cộng đồng trường học và gia đình, phù hợp với điều kiện nguồn lực y tế cơ sở tại miền Trung mà không đòi hỏi chi phí can thiệp y tế chuyên sâu tốn kém.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Ngành Y tế và ngành Giáo dục tỉnh Quảng Nam cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, củng cố mạng lưới y tế trường học, đảm bảo bố trí đủ nhân lực y tế chuyên trách tại các trường tiểu học thay vì phụ thuộc vào cán bộ kiêm nhiệm.
  • Rà soát, đầu tư cải tạo cơ sở vật chất lớp học theo đúng quy chuẩn: lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng bảng đúng quy cách kỹ thuật (đèn có máng che chống lóa, lắp cách tường 0,6 m và cao hơn mép trên bảng 0,3 m), đảm bảo độ rọi phòng học đạt tối thiểu 100 lux; trang bị bàn ghế có kích thước phù hợp với từng nhóm chiều cao học sinh theo Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BGDĐT-BKHCN-BYT.
  • Đưa chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe mắt vào kế hoạch sinh hoạt ngoại khóa định kỳ; hướng dẫn giáo viên và phụ huynh theo dõi tư thế ngồi học, kiểm soát thời gian sử dụng thiết bị điện tử dưới 2 giờ/ngày và tăng thời gian hoạt động thể lực ngoài trời của học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, nghiên cứu chỉ triển khai khảo sát trên nhóm học sinh tiểu học 7–8 tuổi tại ba huyện, thành phố đại diện của tỉnh Quảng Nam, chưa mở rộng ra toàn bộ các khối lớp khác cũng như toàn bộ các huyện đồng bằng ven biển còn lại. Bên cạnh đó, mô hình can thiệp chủ yếu tập trung vào các giải pháp truyền thông hành vi, vệ sinh thị giác và môi trường học đường, chưa kết hợp thử nghiệm đối chứng với các biện pháp quang học chuyên sâu (như kính Ortho-K) hoặc biện pháp dược lý (thuốc nhỏ mắt Atropine nồng độ thấp) do điều kiện triển khai cộng đồng diện rộng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: tiếp tục theo dõi dọc tiến trình khúc xạ của nhóm học sinh này khi bước vào cấp trung học cơ sở; mở rộng mô hình can thiệp ra các địa bàn miền núi cao và ven biển; nghiên cứu sâu hơn về mối tương tác giữa biến thể gen và các yếu tố môi trường tác động đến sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu ở trẻ em địa phương.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Dịch tễ học, Y học dự phòng, Y tế công cộng và Nhãn khoa học đường: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, kỹ thuật đo đạc biến số khúc xạ học đường và ứng dụng mô hình phân tích sai biệt trong sai biệt (DID).
  • Cán bộ quản lý y tế và giáo dục tại các Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) các tỉnh, thành phố: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chính sách y tế trường học, định chuẩn cơ sở vật chất phòng học và lập kế hoạch ngân sách cho chương trình chăm sóc mắt học đường.
  • Cán bộ y tế cơ sở và giáo viên tiểu học: Cung cấp khung hướng dẫn thực hành vệ sinh thị giác, nhận diện sớm các dấu hiệu suy giảm thị lực và điều chỉnh tư thế ngồi học cho học sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán cận thị, viễn thị và loạn thị được tác giả áp dụng trong luận án là gì?
Luận án căn cứ vào độ cầu tương đương ($\text{SE} = \text{Độ cầu} + \frac{1}{2} \text{Độ trụ}$) và độ trụ để xác định: cận thị khi $\text{SE} \le -0,50\text{ D}$; viễn thị khi $\text{SE} \ge +0,50\text{ D}$; loạn thị khi $\text{Cyl} \ge 0,75\text{ D}$. Cận thị được phân thành ba mức độ: nhẹ ($< -3,00\text{ D}$), trung bình ($-3,00\text{ D}$ đến $-6,00\text{ D}$) và nặng ($> -6,00\text{ D}$).

2. Tại sao nghiên cứu lại chọn nhóm học sinh lứa tuổi 7–8 tuổi (lớp 2 và lớp 3) để bắt đầu can thiệp?
Tác giả lý giải trẻ khởi phát cận thị ở lứa tuổi 7–8 tuổi có nguy cơ tiến triển thành cận thị nặng cao gấp gần 3 lần so với lứa tuổi lớn hơn. Đồng thời, học sinh lớp 1 chưa ổn định nề nếp học tập và khó hợp tác chính xác trong quy trình khám mắt, trong khi học sinh lớp 2–3 đã đủ khả năng hợp tác tốt. Ngoài ra, việc chọn lứa tuổi này bảo đảm tính khả thi theo dõi dọc sau 2 năm can thiệp, học sinh vẫn học tại trường tiểu học (lên lớp 4–5) với môi trường ổn định.

3. Thực trạng nhân lực y tế trường học tại tỉnh Quảng Nam được ghi nhận như thế nào trong luận án?
Trong năm học 2023–2024, toàn tỉnh có 130.542 học sinh tiểu học tại 241 trường. Mặc dù 92,9% số trường (224 trường) có lập sổ theo dõi sức khỏe, nhưng chỉ có 66% số trường (159 trường) có nhân viên y tế trường học chuyên trách. Nhiều trường phải sử dụng cán bộ trạm y tế xã kiêm nhiệm, gây hạn chế trong việc giám sát vệ sinh học đường và chăm sóc sức khỏe thị giác thường xuyên.

4. Điểm bất cập chính về điều kiện vệ sinh phòng học tại tỉnh Quảng Nam được nêu trong nghiên cứu là gì?
Theo kết quả kiểm tra của Sở Y tế và CDC Quảng Nam được tác giả dẫn giải, kích thước và hiệu số bàn ghế cơ bản đạt quy định, nhưng cường độ chiếu sáng chung trong phòng học còn chưa bảo đảm. Đa số các trường chưa bố trí đèn chiếu sáng bảng đúng quy chuẩn (đèn lắp song song với tường treo bảng, cách tường 0,6 m, cao hơn mép trên của bảng 0,3 m và có máng che chống chói).

5. Cơ chế sinh học nào được tổng quan để giải thích tác dụng bảo vệ mắt của hoạt động ngoài trời?
Luận án trình bày bốn giả thuyết chính: (1) Thuyết ánh sáng - dopamine: cường độ ánh sáng ngoài trời kích thích giải phóng dopamine từ võng mạc giúp kiểm soát sự giãn dài của trục nhãn cầu; (2) Giả thuyết cường độ ánh sáng làm chậm độ giãn trục nhãn cầu; (3) Thuyết vitamin D: ánh sáng cực tím kích thích tổng hợp vitamin D; (4) Thuyết tăng độ sâu tiêu cự khi đồng tử co lại dưới ánh sáng mạnh, giúp giảm độ mờ hình ảnh trên võng mạc.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Quang Bình là công trình nghiên cứu dịch tễ học thực địa về tật khúc xạ ở học sinh tiểu học tại tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2023–2025. Bằng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp cộng đồng có đối chứng theo dõi dọc 2 năm, luận án đã làm rõ thực trạng phân bố tật khúc xạ, nhận diện các yếu tố nguy cơ môi trường - hành vi và khẳng định hiệu quả của giải pháp can thiệp giáo dục sức khỏe phối hợp nhà trường - gia đình trong việc làm chậm tiến triển cận thị. Các kết quả và đề xuất trong luận án cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp cho công tác chăm sóc mắt học đường và nâng cao chất lượng y tế trường học tại địa phương.