CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1. Khái niệm địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1. Định nghĩa “địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” Địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật là khái niệm dùng để xác định vị trí, vai trò, chức năng, những hoạt động cơ bản cũng như tư cách của chủ thể đó trong quá trình tồn tại và hoạt động dưới sự điều chỉnh của pháp luật. Hay nói cách khác, địa vị pháp lý còn được hiểu là bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, từ đó giúp xác lập, giới hạn khả năng của các chủ thể trong việc thực hiện các hoạt động của mình.
Theo Từ điển Luật học, “Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật”. Thông qua địa vị pháp lý, ta có thể phân biệt được các chủ thể pháp luật với nhau, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của các chủ thể đó trong các mối quan hệ pháp luật (Viện Khoa học pháp lý, 2006). Từ đó còn là cơ sở giúp cho việc nghiên cứu các chủ thể pháp luật khác nhau được dễ dàng hơn, thuận tiện hơn. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thông thường bao gồm địa vị pháp lý của cá nhân và địa vị pháp lý của tổ chức.
Địa vị pháp lý của cá nhân là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho cá nhân có tư cách chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung và các quan hệ dân sự nói riêng”. Trong đó, quyền được sử dụng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo bảo thực hiện, được Nhà nước thừa nhận và quy định trong pháp luật. Còn nghĩa vụ được hiểu là những xử sự cần thiết mà các chủ thể phải thực hiện, thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động và được Nhà nước đảm bảo thi hành. Địa vị pháp lý của tổ chức thường được hiểu là vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền hay quan hệ pháp lý của chủ thể đó trong mối quan hệ để phân biệt với các chủ thể khác.
Ở một khía cạnh khác, khi tìm hiểu về địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam, trước hết ta cần phải hiểu được về khái niệm địa vị pháp lý của cơ quan nhà nước. Theo đó, địa 5 vị pháp lý của cơ quan nhà nước là khái niệm được sử dụng để phản ánh vị trí của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước, thể hiện thông qua nhiều khía cạnh: - Cấp của cơ quan: cấp trung ương hay cấp địa phương; - Trình tư thành lập: bầu hay được lập ra; - Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan; - Chế độ trách nhiệm chịu trách nhiệm trước ai; - Thẩm quyền của cơ quan… (Học viện Hành chính, 2010). Từ những phân tích nêu trên về địa vị pháp lý, ta có rút ra định nghĩa về địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam như sau: “Địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là vị trí của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bộ máy nhà nước xuất phát từ tính chất, chức năng của Ngân hàng Nhà nước, thể hiện ra bên ngoài là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về vị trí pháp lý, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước cũng như mối quan hệ pháp lý giữa cơ quan này với các cơ quan khác của Nhà nước”. Như vậy khi tìm hiểu, nghiên cứu về địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam, chúng ta có thể biết được vị trí, cơ cấu tổ chức, chức năng cũng hoạt động cơ bản của chế định này trong bộ máy nhà nước.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chế định NHNN được xác định không chỉ là Ngân hàng trung ương của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà còn đồng thời là một cơ quan quản lý nhà nước. Cho đến nay, quan điểm của nhà làm luật vẫn cho rằng việc thể hiện đồng thời cả vai trò NHTW và cơ quan quản lý nhà nước ở cấp Bộ sẽ giúp cho NHNN thực hiện được sứ mệnh của mình thuận lợi hơn và hiệu quả hơn so với khi chỉ thực hiện vai trò là ngân hàng trung ương của quốc gia. Đặc điểm địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Dựa trên cách tiếp cận khái niệm như trên, ta có thể thấy địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau đây; Thứ nhất, khi nhắc tới cụm từ địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam, đặc điểm đầu tiên cần phải đề cập tới chính là khái niệm này dùng để xác định vị trí của NHNN Việt Nam trong cấu trúc tổ chức của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ví dụ 6 như NHNN có vị trí tương đương cơ quan nhà nước nào ở trung ương hay địa phương, chịu sự quản lý hay nằm trong thiết chế điều hành nào. Thứ hai, bên cạnh đó khi đề cập đến khái niệm này, ta sẽ biết được nội dung cần tìm hiểu tiếp theo về địa vị pháp lý của NHNN chính là những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan này là gì trên cơ sở vị trí pháp lý mà pháp luật đã quy định và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trao cho.
Thứ ba, địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam cho ta biết thiết chế này có cơ cấu tổ chức như thế nào, bao gồm những bộ phận hay thành tố nào cấu thành. Qua đó, xác định bộ máy quản lý và điều hành được áp dụng theo cơ chế nào hiện nay. Thứ tư, khái niệm này giúp ta biết được các hoạt động cơ bản mà một chủ thể pháp luật sẽ thực hiện, mà cụ thể là các hoạt động mà NHNN Việt Nam trên thực tế sẽ thực hiện xuất phát từ vị trí pháp lý của mình cũng như những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Khái niệm pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.
Định nghĩa “pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” Xuất phát từ tầm quan trọng của NHNN Việt Nam trong bộ máy nhà nước, giữ vị trí trung tâm của hệ thống ngân hàng và nắm vai trò điều tiết lượng tiền tệ trong nền kinh tế. Do đó, việc xây dựng hay ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam, cụ thể là điều chỉnh về các vấn đề như vị trí pháp lý, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, hoạt động cơ bản hay mối quan hệ giữa NHNN với các cơ quan khác là một điều hết sức cần thiết, thể hiện tính tất yếu khách quan trong sự tồn tại của pháp luật ngân hàng, góp phần tạo nên một khung pháp lý thuận lợi cho sự hoạt động và phát triển của chủ thể này, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhưng hiện nay, khi xác định nội hàm cho khái niệm “pháp luật ngân hàng Việt Nam” nói chung vẫn đang tồn tại những tranh cãi nhất định. Có ý kiến cho rằng cần phải xác định pháp luật ngân hàng Việt Nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật với đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng.
Nhưng cũng có quan điểm cho rằng đây không phải là một ngành luật độc lập mà chỉ nên được coi là một phân ngành luật thuộc 7 ngành luật Tài chính Ngân hàng. Chính lẽ đó việc xác định pháp luật ngân hàng là một ngành luật, phân ngành luật hay thậm chí là chế định pháp luật vẫn chưa được ngã ngũ. Do việc xác định nội hàm của pháp luật ngân hàng còn nhiều luồng quan điểm, vậy nên trong phạm vi nội dung của khóa luận này, khi đi sâu tìm hiểu cụ thể vấn đề “pháp luật về địa vị pháp lý của NHNN Việt Nam” – một nội dung cơ bản nằm trong pháp luật ngân hàng, người viết chỉ tập trung tìm hiểu về những nội dung cơ bản của vấn đề này. Xuất phát từ cách tiếp cận nêu trên có thể hiểu: “Pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước bao gồm: vị trí của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong bộ máy nhà nước; cơ cấu tổ chức, quản lý điều hành; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cùng các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tư cách là một cơ quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng, ngoại hối cũng như là ngân hàng trung ương của quốc gia trong việc thực hiện các chính sách tiền tệ để hướng đến phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế, phát triển xã hội đất nước một cách bền vững” (Định nghĩa này được tham khảo dựa trên định nghĩa pháp luật được trình bày trong Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb.209, Trường Đại học Luật Hà Nội).
Nội dung pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Xuất phát từ tên gọi, mỗi quốc gia khác nhau sẽ có những cách gọi khác nhau cho chế định này dựa vào yếu tố lịch sử, sở hữu, thể chế chính trị… Chẳng hạn như có những quốc gia sử dụng thuật ngữ “ngân hàng trung ương” (như Liên bang Nga), “ngân hàng quốc gia” (như Iran, Hungari), “cục dự trữ Liên bang Mỹ - FED” (như Hoa Kỳ), hoặc chỉ là những tên gọi mang tính chất lịch sử và kế thừa như Ngân hàng Anh, Ngân hàng Nhật Bản… Còn ở Việt Nam, chế định này mang tên gọi Ngân hàng Nhà nước. Chính vì vậy, nội hàm pháp luật về địa vị pháp lý của chủ thể này cũng sẽ bao gồm những nội dung khác nhau tương ứng với pháp luật của từng quốc gia. Song, cho dù có khác biệt như nào thì trong nội dung pháp luật về địa vị pháp lý của NHTW vẫn sẽ có những nội dung được quy định để làm rõ các vấn đề như vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, hay các hoạt động cơ 8 bản của cơ quan này.