Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tổ chức bộ máy nhà nước hiện đại, ngân hàng trung ương giữ vị trí trung tâm trong việc điều tiết hệ thống lưu thông tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô. Đối với Việt Nam, kể từ khi Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập theo Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/05/1951 cho đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước bối cảnh phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện mức độ độc lập tự chủ của Ngân hàng Nhà nước là yêu cầu cấp thiết được Đảng và Nhà nước chú trọng. Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" của tác giả Phạm Đức Việt (ngành Luật học, Khoa Luật – Học viện Ngân hàng, khóa 2018 - 2022, người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Kim Anh) được thực hiện nhằm phân tích toàn diện khung pháp lý điều chỉnh tổ chức và hoạt động của định chế này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nhiệm vụ chính:
- Làm rõ cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của ngân hàng trung ương và nội dung pháp luật điều chỉnh địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; khảo cứu pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được cùng các tồn tại, bất cập.
- Luận giải sự cần thiết và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổng thể các quy định pháp luật và quan hệ pháp lý liên quan đến địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bao gồm: vị trí trong bộ máy nhà nước; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý, điều hành; các hoạt động cơ bản của cơ quan này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (gồm các văn bản còn hiệu lực và các văn bản lịch sử làm mốc so sánh) tính đến thời điểm hoàn thành khóa luận (tháng 05/2022).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các khái niệm nền tảng của khoa học pháp lý về địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật (theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, 2006) và địa vị pháp lý của cơ quan nhà nước (theo tài liệu của Học viện Hành chính, 2010; Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội). Trên bình diện lý thuyết ngân hàng trung ương, tác giả phân loại ba mô hình tổ chức vị trí pháp lý phổ biến trên thế giới:
- Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Quốc hội / độc lập với Chính phủ (điển hình là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - FED, Đức, Anh, Thụy Sĩ, Nhật Bản).
- Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ (Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Indonesia).
- Mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Bộ Tài chính (mô hình lịch sử từng áp dụng tại Pháp, Anh, Malaysia trước đây).
Đồng thời, đề tài sử dụng khung phân loại bốn cấp độ độc lập tự chủ của ngân hàng trung ương theo Báo cáo tháng 12/2004 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): (i) độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động; (ii) độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động; (iii) độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành; (iv) độc lập tự chủ hạn chế.
Hệ thống văn bản pháp lý chủ yếu được trích dẫn và phân tích trong khóa luận gồm:
- Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2013, Luật Đầu tư năm 2020.
- Các văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ: Sắc lệnh số 15/SL (1951), Nghị định số 171/NĐ-CP (1961), Nghị định số 53/HĐBT (1988), Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước năm 1990, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) và Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.
- Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Luật Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc năm 1995 (sửa đổi, bổ sung năm 2003).
- Các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành: Nghị định số 16/2017/NĐ-CP, Nghị định số 26/2014/NĐ-CP, Nghị định số 43/2019/NĐ-CP (Văn bản hợp nhất số 16/VBHN-NHNN); Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg; các Thông tư số 40/2011/TT-NHNN (Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-NHNN năm 2022), Thông tư số 30/2015/TT-NHNN, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, Thông tư số 03/2018/TT-NHNN, Thông tư số 36/2015/TT-NHNN, Thông tư số 08/2017/TT-NHNN, Thông tư số 04/2018/TT-NHNN, Thông tư số 06/2020/TT-NHNN, Thông tư số 17/2011/TT-NHNN và Văn bản hợp nhất số 06/2014/VBHN-NHNN.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp: phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin; phương pháp nghiên cứu định tính; phương pháp thu thập dữ liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp và bình luận pháp luật; nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn.
Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình Luật Ngân hàng (Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Ngân hàng, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh), các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước (Nguyễn Bảo Sơn 2013, Sengchanh Somkhen 2016, Nguyễn Trúc Quỳnh 2018) cùng các báo cáo, tài liệu thống kê chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chương này tập trung xác lập cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật điều chỉnh địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và phân tích kinh nghiệm quốc tế:
- Khái niệm và đặc điểm: Địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước là vị trí trong bộ máy nhà nước xuất phát từ tính chất, chức năng của cơ quan này, biểu hiện qua tổng thể các quy phạm pháp luật về vị trí pháp lý, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động cơ bản và mối quan hệ pháp lý với các cơ quan khác. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước vừa là cơ quan quản lý nhà nước cấp Bộ, vừa là ngân hàng trung ương.
- Nội dung pháp luật về địa vị pháp lý: Bao gồm quy định về vị trí trong bộ máy nhà nước (mô hình trực thuộc Chính phủ); quy định về chức năng kép (quản lý nhà nước về tiền tệ - ngân hàng - ngoại hối và các chức năng ngân hàng trung ương); cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý điều hành (chế độ một thủ trưởng); và các nhóm hoạt động cơ bản.
- Pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC): PBOC được thành lập ngày 01/12/1948 trên cơ sở hợp nhất Ngân hàng Hoa Bắc, Ngân hàng Bắc Hải và Ngân hàng Nông dân Tây Bắc. Giai đoạn 1949 - 1978, PBOC là ngân hàng duy nhất kiêm cả chức năng thương mại và trung ương. Năm 1980, chức năng thương mại được chuyển giao cho 4 ngân hàng quốc doanh. Đến tháng 9/1983, Quốc vụ Viện chuyển PBOC thành ngân hàng trung ương và được luật hóa qua Luật PBOC năm 1995 (sửa đổi năm 2003). Điểm đặc thù của PBOC là vào tháng 4/2003, Quốc vụ Viện tách toàn bộ chức năng điều tiết, giám sát ngân hàng khỏi PBOC sang Ủy ban Quản lý và Giám sát Ngân hàng Trung Quốc (CBRC). Về mạng lưới, năm 1999, PBOC xóa bỏ mạng lưới chi nhánh cấp tỉnh/thành phố theo địa giới hành chính, lập 09 Chi nhánh Khu vực đặt tại các vùng kinh tế trọng điểm (Thiên Tân, Thẩm Dương, Thượng Hải, Nam Kinh, Tế Nam, Vũ Hán, Quảng Châu, Thành Đô, Tây An), 02 Sở Giao dịch (Bắc Kinh, Trùng Khánh), duy trì 303 chi nhánh cấp thành phố, 1.809 chi nhánh cấp huyện/khu, 18 Vụ/Cục tại Trụ sở chính, Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC) và 06 văn phòng đại diện quốc tế.
- Bài học kinh nghiệm: Khóa luận chỉ ra ba giá trị tham khảo từ PBOC: tính ổn định cao của luật điều chỉnh; sự hợp lý trong việc tổ chức mạng lưới chi nhánh theo vùng kinh tế thay vì rải đều theo địa giới hành chính nhằm tránh can thiệp cục bộ; và xu hướng phân định chức năng điều hành chính sách tiền tệ với chức năng thanh tra giám sát theo chuẩn mực Basel II.
CHƯƠNG 2: Thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chương 2 trình bày chi tiết thực trạng các quy định pháp luật thực định và đánh giá quá trình thực thi:
- Vị trí pháp lý: Theo Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có tư cách pháp nhân, vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước và trụ sở chính tại Hà Nội. Về tính độc lập, tác giả chỉ rõ trước đây Ngân hàng Nhà nước ở mức "độc lập tự chủ hạn chế", nhưng khoản 4 Điều 3 Luật năm 2010 đã tạo bước chuyển tịnh tiến sang cấp độ "độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành" khi trao thẩm quyền cho Thống đốc quyết định các công cụ (tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở) để thực hiện chỉ tiêu lạm phát do Quốc hội quyết định.
- Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn:
- Chức năng quản lý nhà nước: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, lập chỉ tiêu lạm phát trình Chính phủ, quản lý nhà nước về ngoại hối và vàng, thực hiện thanh tra, kiểm tra, áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với tổ chức tín dụng có nguy cơ mất an toàn.
- Chức năng ngân hàng trung ương: Độc quyền phát hành tiền (in, đúc, bảo quản, tiêu hủy tiền giấy, tiền kim loại); ngân hàng của các tổ chức tín dụng (nhận tiền gửi dự trữ bắt buộc, cấp tín dụng với vai trò "người cho vay cuối cùng"); cung ứng dịch vụ tiền tệ và đại lý ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước, tạm ứng cho ngân sách nhà nước theo Điều 26 Luật năm 2010.
- Cơ cấu tổ chức và điều hành: Cơ cấu tập trung thống nhất gồm bộ máy tại trụ sở chính, các chi nhánh tại 63 tỉnh/thành phố, văn phòng đại diện và đơn vị trực thuộc. Cơ chế quản lý áp dụng chế độ thủ trưởng cá nhân: Thống đốc là thành viên Chính phủ, người đứng đầu cơ quan, đại diện pháp nhân và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng, Quốc hội (thay thế mô hình Hội đồng quản trị thời kỳ Pháp lệnh năm 1990).
- Hoạt động cơ bản:
- Với vai trò cơ quan quản lý nhà nước: Thực hiện cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép tổ chức tín dụng (phân cấp thẩm quyền giữa Thống đốc đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước đối với quỹ tín dụng nhân dân); quản lý hành chính về ngoại hối mang tính chấp hành - điều hành; thanh tra, giám sát ngân hàng (thực hiện bởi Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng theo mô hình song trùng trực thuộc, quy định tại Văn bản hợp nhất số 16/VBHN-NHNN); kiểm toán nội bộ (Vụ Kiểm toán nội bộ) và kiểm soát nội bộ (theo Thông tư số 06/2020/TT-NHNN).
- Với vai trò ngân hàng trung ương: Điều hành chính sách tiền tệ quốc gia qua công cụ tái cấp vốn (cho vay cầm cố giấy tờ có giá theo Văn bản hợp nhất số 06/2014/VBHN-NHNN, chiết khấu, cho vay đặc biệt), lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, thị trường mở; tổ chức in đúc, phát hành tiền, quản lý ngân quỹ và hệ thống thanh toán quốc gia.
- Đánh giá thực trạng: Khóa luận ghi nhận các ưu điểm về tính đồng bộ của khung pháp lý, hiệu quả kiềm chế lạm phát (giai đoạn 2016 - 2020), tinh giản biên chế (giai đoạn 2015 - 2020). Tuy nhiên, tác giả chỉ ra các hạn chế: mạng lưới 63 chi nhánh cấp tỉnh cồng kềnh; tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước trong việc quyết định mục tiêu tiền tệ còn phụ thuộc; cơ chế giám sát còn chồng chéo giữa quản lý hành chính và giám sát an toàn vi mô.
CHƯƠNG 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chương 3 luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện khung pháp lý xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, các cam kết hội nhập quốc tế (như Hiệp định TPP/CPTPP, tiến trình áp dụng chuẩn mực giám sát an toàn vốn Basel II) và thực tiễn vận hành hệ thống ngân hàng. Các nhóm giải pháp tác giả đề xuất gồm:
- Từng bước nâng cao mức độ độc lập, tự chủ của Ngân hàng Nhà nước đối với việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ, giảm bớt sự can thiệp hành chính trực tiếp trong việc phân bổ hạn mức tín dụng.
- Nghiên cứu đổi mới mô hình tổ chức chi nhánh: từng bước tái cấu trúc mạng lưới chi nhánh theo khu vực kinh tế trọng điểm thay cho việc duy trì đại trà tại từng đơn vị hành chính cấp tỉnh nhằm tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu lực chỉ đạo.
- Hoàn thiện khung pháp lý về thanh tra, giám sát ngân hàng; nâng cao tính độc lập của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, chuẩn hóa các tiêu chí giám sát rủi ro tiệm cận chuẩn mực quốc tế Basel II.
- Hoàn thiện quy định về các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, cơ chế tái cấp vốn và quy trình xử lý khủng hoảng ngân hàng, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính quốc gia.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp toàn diện các quy định của pháp luật thực định Việt Nam điều chỉnh địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước qua các giai đoạn lịch sử (từ năm 1951, 1961, 1988, 1990, 1997 đến 2010). Đồng thời, tác giả xây dựng bức tranh so sánh đối chiếu với Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC):
| Tiêu chí so sánh |
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam |
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) |
| Vị trí pháp lý |
Cơ quan ngang bộ trực thuộc Chính phủ, là NHTW của quốc gia |
Cơ quan thuộc Quốc vụ Viện, là NHTW của CHND Trung Hoa |
| Chức năng chủ đạo |
Chức năng kép: Cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ - ngân hàng và NHTW |
Tập trung chủ yếu vào chức năng NHTW (hoạch định, thực thi CSTT, bảo vệ ổn định tài chính) |
| Chức năng thanh tra, giám sát |
Vẫn trực thuộc Ngân hàng Nhà nước (thực hiện qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng) |
Đã tách khỏi PBOC từ tháng 04/2003, chuyển giao cho Ủy ban Quản lý và Giám sát Ngân hàng (CBRC) |
| Cơ cấu tổ chức mạng lưới địa phương |
Tổ chức theo địa giới hành chính (63 chi nhánh tại 63 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương) |
Tổ chức 09 Chi nhánh Khu vực theo vùng kinh tế trọng điểm, 02 Sở Giao dịch và hệ thống chi nhánh phụ |
| Cơ chế điều hành |
Chế độ thủ trưởng cá nhân (Thống đốc là thành viên Chính phủ) |
Ban Lãnh đạo (Thống đốc và các Phó Thống đốc), có Ủy ban Chính sách Tiền tệ (MPC) tư vấn |
| Mức độ độc lập (theo IMF) |
Đang dịch chuyển sang cấp độ tự chủ lựa chọn công cụ điều hành |
Mức độ độc lập trong thực thi chính sách tiền tệ được luật hóa rõ ràng dưới sự chỉ đạo của Quốc vụ Viện |
Về mặt học thuật và đóng góp mới, so với các công trình nghiên cứu trước đây (thường chỉ tập trung vào một khía cạnh riêng lẻ như cơ chế điều hành lãi suất của Nguyễn Bảo Sơn năm 2013, hoạt động thanh tra giám sát của Nguyễn Trúc Quỳnh năm 2018, hoặc so sánh với Ngân hàng Quốc gia Lào của Sengchanh Somkhen năm 2016), khóa luận này đã hệ thống hóa toàn diện khung pháp lý về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dưới góc độ luật thực định, gắn kết chặt chẽ giữa vị trí, chức năng, thẩm quyền quản lý với mô hình tổ chức bộ máy và hoạt động nghiệp vụ cụ thể.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận chủ yếu tiếp cận dưới góc độ phân tích quy phạm pháp luật thực định và mô tả cơ cấu tổ chức bộ máy. Do giới hạn về nguồn tư liệu và phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài chưa phân tích định lượng sâu sắc về mối tương quan kinh tế lượng giữa mức độ độc lập của Ngân hàng Nhà nước và chỉ số lạm phát, cũng như chưa khảo sát toàn diện thực trạng thi hành tại toàn bộ 63 chi nhánh tỉnh/thành phố.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế - pháp lý khi áp dụng thí điểm mô hình chi nhánh khu vực tại Việt Nam; nghiên cứu sâu về cơ chế pháp lý thành lập cơ quan giám sát tài chính độc lập tách rời khỏi Ngân hàng Nhà nước theo chuẩn mực Basel II và Basel III.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo hữu ích đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật, Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng đang học tập và nghiên cứu các học phần Luật Ngân hàng, Luật Hành chính và Thể chế Tài chính.
- Người làm nghiên cứu, cán bộ pháp chế trong ngành ngân hàng cần một tài liệu tổng hợp có hệ thống về thẩm quyền cấp phép, thanh tra giám sát, cơ chế kiểm soát nội bộ và các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Các phần đáng tham khảo nhất bao gồm: hệ thống hóa sự phát triển lịch sử vị trí pháp lý qua các văn bản từ năm 1951 đến năm 2010 (Chương 2); mô hình tổ chức và bài học cải cách mạng lưới của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (Chương 1); và sự phân định thẩm quyền giữa Thống đốc với Giám đốc chi nhánh trong hoạt động cấp giấy phép tổ chức tín dụng (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức theo mô hình ngân hàng trung ương nào và có vị trí pháp lý ra sao?
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức theo mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ. Theo Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, cơ quan này vừa là cơ quan ngang bộ của Chính phủ (thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối), vừa là ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (thực hiện phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ).
2. Mức độ độc lập tự chủ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được phân loại ở cấp độ nào?
Theo tiêu chí phân loại của IMF (năm 2004), trước đây Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở cấp độ "độc lập tự chủ hạn chế". Từ khi Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 có hiệu lực (cụ thể tại khoản 4 Điều 3), vị thế của cơ quan này đã có bước chuyển dịch tịnh tiến sang cấp độ "độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành", khi Thống đốc được quyền quyết định sử dụng các công cụ (tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở) để thực hiện mục tiêu chỉ tiêu lạm phát do Quốc hội quyết định.
3. Thẩm quyền cấp, sửa đổi, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng được phân cấp như thế nào?
Thẩm quyền được phân định theo loại hình tổ chức tín dụng: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trực tiếp thực hiện đối với các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và tổ chức tài chính vi mô; trong khi Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại địa phương được phân cấp thẩm quyền đối với các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn quản lý.
4. Mô hình tổ chức mạng lưới chi nhánh của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) có gì khác biệt so với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam?
Từ năm 1999, PBOC đã bãi bỏ mô hình chi nhánh theo địa giới hành chính cấp tỉnh và chuyển sang thành lập 09 Chi nhánh Khu vực đặt tại các vùng kinh tế trọng điểm (quản lý liên tỉnh) và 02 Sở Giao dịch tại Bắc Kinh và Trùng Khánh nhằm tăng tính tập trung thống nhất và hạn chế sự can thiệp của chính quyền địa phương. Ngược lại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn đang duy trì hệ thống 63 chi nhánh đặt tại tất cả 63 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.
5. Hoạt động thanh tra ngân hàng và giám sát ngân hàng khác nhau như thế nào trong cơ chế quản lý của Ngân hàng Nhà nước?
Thanh tra ngân hàng là hoạt động hành chính mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền thực hiện định kỳ hoặc đột xuất nhằm kiểm tra việc chấp hành pháp luật của mọi đối tượng tham gia hoạt động tiền tệ, ngân hàng, ngoại hối. Giám sát ngân hàng là hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng trung ương nhằm thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin qua hệ thống báo cáo để theo dõi an toàn hoạt động vi mô, phòng ngừa rủi ro và chỉ áp dụng đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Đức Việt đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật thực định về địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, làm rõ tính chất kép của định chế này trong vai trò vừa là cơ quan quản lý nhà nước vừa là ngân hàng trung ương. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức và đối chiếu thực tiễn với mô hình Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, công trình đã chỉ rõ những bất cập về mạng lưới chi nhánh và mức độ độc lập tự chủ của ngân hàng trung ương. Các giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ cho tiến trình tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý ngân hàng và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.