Tổng quan nghiên cứu

Thống kê diễn biến tài nguyên rừng Việt Nam cho thấy diện tích rừng tự nhiên từng sụt giảm nghiêm trọng từ 14,3 triệu ha với độ che phủ 43% vào năm 1943 xuống chỉ còn 9,3 triệu ha và độ che phủ 28% vào năm 1993. Mặc dù các nỗ lực phục hồi đã nâng độ che phủ lên 37% vào cuối năm 2005 với hệ thống 133 khu rừng đặc dụng có tổng diện tích trên 3,3 triệu ha theo Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng công tác quản lý bảo tồn vẫn đứng trước vô vàn thách thức. Khu bảo tồn thiên nhiên Copia thuộc tỉnh Sơn La với diện tích trên 19.000 ha, trải rộng trên địa bàn 4 xã Chiềng Bôm, Co Mạ, Long Hẹ và Nậm Lầu, là một trong 4 khu rừng tự nhiên nguyên sinh có giá trị đa dạng sinh học đặc biệt cao của vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, phương thức quản lý hành chính từ trên xuống trước đây đã bộc lộ sự bất cập lớn khi tách rời cộng đồng 20.813 nhân khẩu thuộc các dân tộc Thái, Kháng, H'Mông và Khơ Mú ra khỏi tiến trình bảo tồn. Với tỷ lệ hộ nghèo đói lên tới 40% và nguồn thu nhập của người dân phụ thuộc từ 60% đến 80% vào tài nguyên tự nhiên, xung đột giữa bảo vệ rừng và mưu sinh nương rẫy ngày càng gay gắt, đe dọa trực tiếp 54 loài động vật nguy cấp có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Luận văn thạc sĩ lâm học của tác giả Vũ Đức Thuận được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở khoa học, đánh giá tiềm năng và đề xuất hệ thống nguyên tắc, giải pháp đồng quản lý rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Copia (với địa bàn nghiên cứu trọng điểm là xã Chiềng Bôm). Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi tạo ra bước chuyển đổi từ cơ chế quản lý bảo vệ rừng thụ động, đơn phương sang mô hình hợp tác đa bên bình đẳng, hài hòa mục tiêu an ninh môi trường quốc gia với phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên (Co-management / Joint Forest Management) được phát triển bởi các học giả quốc tế như Borrini-Feyerabend, Wild, Mutebi, Rao, Geisler và nghiên cứu tiếp biến của Nguyễn Quốc Dựng tại Việt Nam. Đồng quản lý được xác lập là một tiến trình thể chế hóa, trong đó cơ quan quản lý nhà nước cùng các cộng đồng dân cư bản địa và các bên liên quan tiến hành hiệp thương để xác định, phân chia rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích trên một không gian tài nguyên xác định.

Song song với đó, nghiên cứu tích hợp khung lý thuyết Lâm nghiệp xã hội (Social Forestry) và Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBNRM), đặt trọng tâm vào việc phát huy sức mạnh của 4 nhóm chủ thể chính theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Luật Đất đai năm 2003: Ban quản lý rừng đặc dụng, các doanh nghiệp lâm nghiệp, cộng đồng thôn bản và các hộ gia đình. Luận văn làm sâu sắc 4 khái niệm cốt lõi: Rừng đặc dụng, Tri thức bản địa (Indigenous Knowledge), Thể chế phi chính thức (Hương ước, quy ước bảo vệ rừng) và Cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng (Access and Benefit-Sharing) theo tinh thần Điều 8j của Công ước Đa dạng sinh học năm 1994 mà Việt Nam là thành viên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ quy hoạch giao đất lâm nghiệp của UBND tỉnh Sơn La theo Quyết định số 2396/QĐ-UB, hồ sơ thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Copia theo Quyết định số 729/QĐ-UB và Quyết định số 2509/QĐ-UB, cùng báo cáo kết quả thực hiện Dự án trồng rừng 661 tại huyện Thuận Châu.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra thực địa tại xã Chiềng Bôm – địa bàn đại diện có 4.400 ha rừng đặc dụng thuộc 5 tiểu khu xung yếu. Cỡ mẫu điều tra bao quát toàn bộ 30 bản của xã. Tại mỗi bản, đề tài thành lập nhóm thảo luận tập trung từ 8 đến 10 cộng tác viên bao gồm người cao tuổi, phụ nữ, thanh niên và đại diện các đoàn thể quần chúng. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 90 hộ gia đình (3 hộ trên mỗi bản) theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, đại diện đồng đều cho 3 nhóm mức sống: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo.

Phương pháp phân tích chủ đạo là Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia PRRA (kết hợp PRA và RRA) thông qua các công cụ trực quan: Sơ đồ thực thể VENN, ma trận đánh giá mâu thuẫn sử dụng tài nguyên, ma trận xếp hạng ưu tiên và sơ đồ lịch sử đất đai. Việc lựa chọn công cụ PRRA bảo đảm phản ánh trung thực tiếng nói của người dân vùng cao có trình độ học vấn còn hạn chế, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc cho các đề xuất chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra tổng hợp khẳng định Khu bảo tồn thiên nhiên Copia sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới núi cao vô cùng phong phú với 639 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 156 họ, 424 chi của 5 ngành thực vật. Hệ động vật ghi nhận 252 loài có xương sống thuộc 83 họ, 25 bộ; trong đó có 54 loài quý hiếm ghi danh trong Sách đỏ Việt Nam gồm 21 loài thú (như Gấu ngựa, Báo hoa mai, Sơn dương, Cu li), 22 loài chim, 10 loài bò sát và 1 loài lưỡng cư.

Tuy nhiên, khảo sát kinh tế - xã hội tại xã Chiềng Bôm với 663 hộ và 4.590 nhân khẩu bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt. Quỹ đất nông nghiệp chỉ chiếm xấp xỉ 7% tổng diện tích tự nhiên, riêng đất lúa nước chỉ đạt 0,1% (khoảng 94,48 ha canh tác được). Thu nhập lương thực bình quân đầu người chỉ đạt 180 đến 240 kg/năm (50% từ lúa và 50% từ hoa màu trên nương), tổng thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi bình quân chỉ đạt 850.000 đến 960.000 đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tới 40%, với thời gian thiếu ăn kéo dài từ 3 đến 4 tháng mỗi năm.

Về mặt quản trị, lực lượng thường trực của Ban quản lý và Hạt Kiểm lâm Copia chỉ có 17 biên chế (9 cán bộ trình độ đại học, 11 trung cấp) phụ trách địa bàn hiểm trở hơn 19.000 ha. Cơ sở vật chất vô cùng thiếu thốn với 5 gian nhà lắp ghép tạm bợ, không có xe chuyên dụng tuần tra. Hậu quả là áp lực khai hoang đốt nương đã từng gây ra vụ cháy rừng thiêu rụi 137 ha rừng tái sinh khu gieo bay, cùng với đó là tình trạng khai thác trộm các loài gỗ quý như Pơmu, Giổi găng và đào bới dược liệu Hoàng đằng với giá bán 2.000 đồng/kg.

Thảo luận kết quả

Phân tích sâu cơ cấu kinh tế hộ gia đình cho thấy một phát hiện then chốt: các hộ khá giả tạo dựng nguồn thu chủ yếu từ dịch vụ và phi nông nghiệp, trong khi nhóm hộ nghèo phụ thuộc hoàn toàn vào tài nguyên rừng với tỷ trọng đáp ứng từ 60% đến 80% nhu cầu sống hàng ngày. Cấu trúc sinh kế tại địa phương có thể được mô hình hóa qua bảng tỷ trọng đóng góp thu nhập gồm: lúa nước 10%, chăn nuôi 20%, cây trồng trên nương 20%, cây trang trại 20%, củi đun và lâm sản phụ 15%, khai thác gỗ 10%, săn bắt động vật 5%.

Mâu thuẫn căn bản phát sinh từ việc các quy định bảo tồn đóng kín đã vô tình tước bỏ quyền tiếp cận truyền thống của người dân bản địa, biến họ từ người làm chủ rừng trở thành đối tượng vi phạm. Sơ đồ VENN phân tích các bên liên quan chứng minh rằng cộng đồng 30 bản làng sở hữu hệ thống tri thức bản địa phong phú và thể chế hương ước rất chặt chẽ (như quy định phạt 30.000 đồng nếu chặt củi tươi, định mức khai thác gỗ làm nhà 15 m3/hộ khi tách hộ, hay quy định thu hái măng 1 lần/tháng).

So sánh với các bài học thành công tại Vườn quốc gia Dong Yai (Thái Lan) và Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh (Quảng Nam), tác giả khẳng định việc chính quyền và Ban quản lý chia sẻ quyền hạn, công nhận hương ước bản địa và hỗ trợ kỹ thuật thâm canh chính là chìa khóa tháo gỡ điểm nghẽn bảo tồn tại vùng Tây Bắc.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện thể chế và ký kết thỏa ước đồng quản lý rừng: UBND huyện Thuận Châu chỉ đạo Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Copia phối hợp cùng UBND xã Chiềng Bôm tổ chức rà soát ranh giới, tiến hành giao khoán bảo vệ 100% diện tích rừng vùng đệm và phân khu phục hồi sinh thái cho 30 ban quản lý bản; chính thức hóa các bản quy ước bảo vệ rừng cấp thôn bản theo Thông tư số 56/1999/TT-BNN-KL trong giai đoạn 2007 - 2008.
  • Xây dựng quy chế chia sẻ lợi ích và khai thác lâm sản có kiểm soát: Ban hành hướng dẫn cho phép người dân sở tại khai thác hợp lý các loại lâm sản ngoài gỗ thông thường (măng le, nấm ăn, cây thuốc, hạn mức 20 cây tre nứa/hộ/năm và 15 m3 gỗ làm nhà cho hộ mới lập gia đình) gắn với cam kết bảo vệ tuyệt đối 54 loài động vật Sách đỏ và các loài gỗ quý như Pơmu, Hoàng đằng; đặt mục tiêu kéo giảm 80% số vụ vi phạm lâm luật đến năm 2010.
  • Nâng cao năng lực và trang thiết bị cho lực lượng kiểm lâm: Sở Nông nghiệp & PTNT và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La cần kiện toàn tổ chức, tăng cường biên chế kiểm lâm cơ sở từ 17 lên ít nhất 30 cán bộ chuyên trách; tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng điều tra có sự tham gia (PRA) và xây dựng 4 trạm kiểm lâm kiên cố tại các tiểu khu 234, 247a, 263 trước năm 2009.
  • Đẩy mạnh chương trình sinh kế nông - lâm kết hợp bền vững: Lồng ghép nguồn vốn Chương trình 135 của Chính phủ với Dự án trồng rừng 661 để hỗ trợ 100% giống cây ăn quả, mở rộng vùng nguyên liệu chè đặc sản, kiên cố hóa hệ thống mương tưới tiêu cho 94,48 ha lúa nước; nâng mức lương thực bình quân từ 180 kg lên trên 300 kg/người/năm, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống dưới 20% trong vòng 3 đến 5 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và lực lượng kiểm lâm: Cán bộ lãnh đạo và kiểm lâm viên tại các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên tìm thấy bản hướng dẫn thực hành chi tiết về phương pháp hòa giải xung đột tài nguyên, cách thức xây dựng hương ước bản làng và quy trình phối hợp tuần tra với đồng bào bản địa.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành lâm nghiệp: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật và minh chứng thực địa giá trị cho công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về các học phần Lâm nghiệp xã hội, Quản lý đa dạng sinh học và Quản trị tài nguyên rừng tại các trường đại học.
  • Các tổ chức phi chính phủ và điều phối viên dự án quốc tế: Các chuyên gia phát triển cộng đồng (NGOs) có thể kế thừa bộ công cụ PRRA, ma trận đánh giá các bên liên quan và mô hình can thiệp sinh kế gắn với bảo tồn (ICDP) để áp dụng vào các dự án viện trợ tại khu vực miền núi.
  • Chính quyền địa phương cấp huyện, xã vùng cao: Lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các xã vùng đệm có cơ sở khoa học và thực tiễn để lồng ghép các chỉ tiêu phát triển kinh tế của Chương trình 135 với kế hoạch giao đất, giao rừng và bảo vệ môi trường sinh thái lưu vực sông Mã, sông Đà.

Câu hỏi thường gặp

  • Mô hình đồng quản lý rừng tại Copia có điểm gì khác biệt so với cơ chế quản lý truyền thống trước đây? Cơ chế quản lý truyền thống áp dụng mệnh lệnh hành chính đơn phương từ trên xuống, xem người dân là đối tượng bị giám sát và đứng ngoài cuộc. Ngược lại, đồng quản lý tại Copia thiết lập quan hệ đối tác bình đẳng giữa 17 cán bộ quản lý với cộng đồng 30 bản làng, cùng chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm tuần tra và quyền hưởng dụng lâm sản ngoài gỗ hợp pháp dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của nhà nước.

  • Vì sao xã Chiềng Bôm lại được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu đại diện cho toàn bộ Khu bảo tồn Copia? Xã Chiềng Bôm quản lý 4.400 ha rừng đặc dụng thuộc 5 tiểu khu xung yếu, là nơi định cư của cả 4 dân tộc thiểu số bản địa với người Thái chiếm 55% và người Kháng chiếm 34%. Đặc biệt, 663 hộ dân tại đây chịu áp lực thiếu đất canh tác gay gắt khi đất nông nghiệp chỉ chiếm 7%, phản ánh đầy đủ mọi đặc trưng sinh thái và thách thức sinh kế điển hình của toàn khu bảo tồn.

  • Làm cách nào để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu sinh kế của 40% hộ nghèo với mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt? Luận văn đề xuất giải pháp đồng bộ: hợp pháp hóa quyền thu hái bền vững các lâm sản phụ thông thường theo hạn mức hương ước bản, kết hợp lồng ghép nguồn lực Dự án 661 và Chương trình 135 để chuyển giao kỹ thuật thâm canh 94,48 ha lúa nước, mở rộng cây chè hàng hóa, từng bước thay thế hoàn toàn tập quán phát nương làm rẫy gây cháy 137 ha rừng.

  • Thể chế truyền thống và hương ước của đồng bào dân tộc thiểu số đóng vai trò gì trong quản lý bảo tồn? Theo Thông tư số 56/1999/TT-BNN-KL và Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về quy chế dân chủ cơ sở, hương ước bản sau khi được phê chuẩn có giá trị pháp lý bắt buộc. Các quy định bản địa như phạt 30.000 đồng khi chặt cây tươi hay cấm săn bắt thú rừng giúp phát huy tối đa sức mạnh tự quản của 810 hộ dân, bù đắp hiệu quả cho sự thiếu hụt nhân sự kiểm lâm.

  • Khung giải pháp đồng quản lý tại Copia có khả năng nhân rộng sang các khu bảo tồn thiên nhiên khác không? Khung quy trình 5 bước và các nguyên tắc đồng quản lý xây dựng từ bộ công cụ PRRA tại Copia tương thích hoàn toàn với các nguyên tắc bảo tồn quốc tế (như tại Vườn quốc gia Dong Yai của Thái Lan hay Kruger của Nam Phi), hoàn toàn có thể chuẩn hóa để chuyển giao và nhân rộng cho hơn 130 khu rừng đặc dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Kết luận

  • Đóng góp học thuật và thực tiễn của luận văn: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đồng quản lý rừng đặc dụng tại Việt Nam; thống kê toàn diện tính đa dạng sinh học với 639 loài thực vật và 252 loài động vật tại Copia; phân tích thực trạng sinh kế của 40% hộ đói nghèo phụ thuộc vào rừng; làm rõ vai trò của 4 nhóm chủ thể quản lý; đề xuất khung nguyên tắc và 4 nhóm giải pháp quản trị hợp tác khả thi.
  • Kế hoạch hành động và lộ trình tiếp theo: Triển khai hoàn thiện quy chế đồng quản lý thí điểm tại xã Chiềng Bôm trong 12 tháng đầu tiên, sau đó mở rộng áp dụng cho 3 xã Co Mạ, Long Hẹ và Nậm Lầu trong giai đoạn 24 đến 36 tháng tiếp theo, hướng tới mục tiêu ổn định độ che phủ rừng và chấm dứt tình trạng đốt nương làm cháy rừng.
  • Thông điệp kêu gọi hành động: Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý lâm nghiệp và các nhà khoa học hãy chung tay hiện thực hóa các giải pháp đồng quản lý của luận văn, biến tài nguyên rừng Copia thành điểm tựa sinh kế vững chắc cho cộng đồng dân tộc bản địa!