mở đầu và kết thức không rõ ràng như xúc cảm, tâm trạng trong công viéc. Thái độ thể hiện sự phản ứng tích cực hay không tích cực đối với một đối tượng nào đó: Theo Từ điện thuật ngữ tâm lý hoc do tác gia Vũ Dũng chủ biên, tính tích cực là khả năng thực hiện chuyên động có chủ định và thay đổi của cơ thể sống dưới tác động của những tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài, đặc điểm chung của tat cả cơ thé sống, động thái riêng của chúng là nguồn biến đổi hoặc hỗ trợ một cách sống động cho những mối liên hệ với môi trường [9]. Tính tích cực của thái độ được thể hiện ở sự ảnh hưởng của thái độ với hành động. Đó là sự chủ động, làm chủ trong suy nghĩ và hành động của mình.
Khi chủ thé có thái độ đối với một đối tượng nhất định, họ sẽ nhận thức và đánh giá tích cực về đối tượng, có cảm xúc tích cực bên cạnh đó họ sẽ có hành động tích cực tác động vào đối tượng. Thái độ có tính ý thức: Thái độ là một hiện tượng tâm lý có ý thức của con người. Tính ý thức thể hiện cá nhân hiểu rõ về cảm xúc, hnahf vi của mình. Có thể điều khiến, điều chỉnh các hành động của họ theo mục đích nhất định.
Tuy nhiên, mức độ có ý thức của mỗi người cao hay thấp khác nhau phụ thuộc vào nhiều yêu tố khách quan, chủ quan như trình độ, văn hoá, kinh nghiệm và những môi trường xung quanh. Thái độ có tính mức độ: Thé hiện mức độ bộc lộ thái độ nhiều hay ít, cao hay thấp. Tính mức độ phản ánh tính chủ thé trong thái độ của cá nhân, như cùng bộc lộ 14 một thái độ như nhau với một đối tượng nhưng mức độ biểu lộ thái độ ở mỗi cá nhân lại cao thấp khác nhau, cường độ biểu hiện mạnh yếu khác nhau trong hành vi và cảm xúc. Dựa vào mức độ biéu hiện của thái độ có thé đưa ra những dự đoán về xu hướng hành vi theo chiều thuận, nếu như chủ thể có mức độ thể hiện thái độ càng tích cực với đối tượng thì xu hướng thực hiện những hành vi tích cực càng lớn.
Thai độ có tính chỉ phôi: Dac diém này là thuộc tính côt lõi của nhân cách. Thái độ quy định đặc điêm của nhận thức, xúc cảm của cá nhân đôi với việc thực hiện khách quan như hành vi của họ. Có thê nói, hau hêt các hiện tượng tượng tâm lý và hành đọng cá nhân ít nhiều đều chịu sự chỉ phối bởi thái độ chủ quan của họ. Thái độ có tính bên vững tương doi: Thái độ của cá nhân được hình thành trong quá trình sống, lao động, trong các mối quan hệ xã hội.
Một số nghiên cứu chỉ ra mỗi liên hệ khá chắc chắn giữa các thành tố nhận thức, xúc cảm và hành vi. Mức độ 6n định này tuỳ thuộc vào mức độ tính tích cực và thường xuyên, lâu dài của cá nhân khi tham gia vào các hoạt động xã hội. Tính bền vững của thái độ biéu hiện ở thái độ kiên định giữ vững lập trường của cá nhân trước một vấn đề, một hoạt động của họ trong cuộc song [1] Như vay, trong những tinh huống, hoàn cảnh cụ thể thì thái độ tồn tại như một trạng thái tâm thé chủ quan, chi phối sự quyết định hành động của cá nhân đối với đối tượng được biểu hiện ở nhận thức, xúc cảm và hành vi của cá nhân. Do đó, chúng ta vừa cần phải có cái nhìn khách quan, khoa học vừa cần linh hoạt khi xem xét thái độ học tập của sinh viên đối với hình thức học tập trực tuyến.
Cấu trúc và biểu hiện thái độ Cùng với nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thái độ, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về cau trúc của thái độ. Có người cho rang thái độ bao gồm cấu trúc bên trong và bên ngoài. Trong đó, cau trúc bên trong của thái độ bao gồm những thuộc tính tạo nên mặt nội dung của thái độ như nhu cầu, hứng thú, niềm tin, tình cảm, kinh nghiệm.; Cau trúc bên ngoài của thái độ bao gồm những yếu tô tạo nên phương thức biểu hiện của thái độ như khí chất, thói quen, trạng thái tâm sinh lý. Mặc dù vậy, phân lớn các nhà tâm lý học đêu nhât trí với quan điêm của tác giả Smith (1942) thì câu trúc của thái độ bao gồm 3 mặt là nhận thức, xúc cảm và hành vi.
15 - Mặt nhận thức thê hiện ở sự hiệu biệt, quan điêm, đánh giá của cá nhân vê một đối tượng, tình huống nào đó. - Mặt xúc cảm thê hiện ở sự rung động, quan tâm, chú ý của cá nhân đên đôi tượng của thai độ. - Mặt hành vi là sự thể hiện cụ thể, sự hiện thực hóa thái độ của chủ thể thông qua xu hướng hành động, hành động thực tế. Thái độ biêu lộ tâm tư, tình cảm, suy nghĩ ra bên ngoài băng nét mặt, lời nói, cử chỉ, hành động của một con người đôi với người khác, với các sự việc, hiện tượng xung quanh [24].
Xét đến mối quan hệ giữa các mặt trong cau trúc của thái độ, một số nha tâm lý học mà tiêu biểu là tác giả M. Ronsenberg cho rằng 3 mặt trong cấu trúc của thái độ có môi quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau. Các thành phần này tuỳ theo từng đối tượng và tình huống sẽ có một vai trò chỉ đạo và chi phối thái độ của cá nhân một cách khác nhau. Như vậy, một thái độ ồn định thường là sự thống nhất của 03 mặt: nhận thức, xúc cảm, và hành vi, tuy nhiên, trong thực tế, 03 mặt trong thái độ không phải lúc nào cũng nhất quán và có thể mâu thuẫn với nhau.
Lý luận về học tập theo hình thức trực tuyến của sinh viên 1. Khái niệm sinh viên Theo Từ điên Tiêng Việt sinh viên được hiéu là: “Người học ở bậc đại hoc” [19]: Còn theo tác giả Vũ Thị Nho thì sinh viên là lứa tuổi từ sau tuổi Phổ thông trung học đến khoảng 24-25 tuổi. Day là lớp người đang theo học ở các trường Đại học, cao đăng, là tầng lớp tri thức của xã hội. Sinh viên là tầng lớp quan trọng trong mỗi chính thé, là đội ngũ chuyển tiếp, chuẩn bị cho nguồn lực lao động xã hội có trình độ cao của đất nước.
[1§] Trong dé tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm: Sinh viên là những người dang học tập và rèn luyện tại các trường đại hoc, cao dang, trung cáp. Họ là một nhóm xã hội đặc thù đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách. 16 Sinh viên là những người có vị trí chuyền tiép, chuân bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghé nghiệp tương doi cao trong xã hội. Học tập của sinh viên 1.
Khải niệm hoc tập của sinh viên Đề làm rõ khái niệm học tập của sinh viên, trước tiên, chúng tôi nêu ra một vài định nghĩa về học tập [Dẫn theo 2]: Tac gia L.Enconhin cho rang việc lĩnh hội tri thức là nội dung cơ ban cua hoạt động học tập, được xác định bởi cau trúc và mức độ học tập.Intenxon cho rằng: học tập là loại hoạt động đặc biệt của con người nhằm mục đích nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi. Nó bao gôm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiên. Taludina lại coi học tập xuất phát từ mục đích hành vi.Petrovxki lại có quan điểm khác khi cho rằng học tập là van dé phẩm chất tư duy, kết hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ giảng dạy.Cudomina lại coi học tập là loại hoạt động nhận thức cơ bản cua sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy. Trong quá trình này, việc nam vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thé tiến hành được hoạt động nghề nghiệp tương lai [22, tr.
Các tác giả Lê Văn Hồng và Lê Ngọc Lan có quan niệm như sau: hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người được điều khién bởi mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kỹ xảo mới, những phương thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định [13, tr. Từ các định nghĩa trên, theo chúng tôi, có thé hiểu: Hoc tập là hoạt động đặc thù của con người, thông qua đó con người lĩnh hội, tiếp thu những tri thức, thái độ, kỹ năng dé hoàn thiện nhân cách của mình và đáp ứng các yêu cau mà xã hội đặt ra cho họ. Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định khái niệm học tập của sinh viên như sau: Học tập của sinh viên là hoạt động đặc thù của sinh viên nhằm tiếp thu những tri thức khoa 17 học chuyên sâu, trau dôi đạo đức, nhân cách, chuẩn bị những điều kiện can thiết dé tương lai ho trở thành những chuyên gia phát triển toàn diện và có trình độ nghiệp vu cao trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Các khẩu học tap cua sinh viên Hoạt động học tập của sinh viên có thé bao gồm nhiều khâu khác nhau, theo chúng tôi, có 5 khâu học tập cơ bản của sinh viên.
Đó là: giờ lý thuyết; giờ thảo luận; làm việc nhóm, tự học và kiêm tra, đánh gia. Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu thái độ học tập của sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội đối với hình thức học tập trực tuyến trên 03 khâu: giờ lý thuyết, giờ thảo luận và làm việc nhóm. Hình thức học tập trực tuyến của sinh viên 1. Khải niệm hình thức học tập trực tuyến Hình thức học tập trực tuyến đã trở thành một hình thức học tập phô biến trên thế giới và thuật ngữ này ngày càng trở nên quen thuộc trong thời gian gần đây.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về học tập theo hình thức trực tuyến. Những định nghĩa về học tập theo hình thức trực tuyến thường gắn liền với yêu tố công nghệ. Theo tác giả Alavi và Leidner (2001), đào tạo trực tuyến được xem là một hình thức học tập thông qua công nghệ với môi trường học tập có sự tương tác của người học với người dạy, nguồn tài liệu số hóa được trung gian thông qua công nghệ thông tin [10]. Tác giả Curtain (2002), được trích dẫn tại Sinngh & Thurman, Nguyễn Hữu Cương tạm dich: “Hoc truc tuyến có thể được định nghĩa rộng là việc sử dụng internet theo một cách nào đó để nâng cao sự tương tác giữa giáo viên và học sinh.