Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam, hoạt động xúc tiến đầu tư (XTĐT) đóng vai trò then chốt nhằm huy động các nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý phục vụ mục tiêu tăng trưởng bền vững. Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 10/04/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về hội nhập quốc tế đã xác định hội nhập kinh tế là trọng tâm, tạo tiền đề thúc đẩy các lĩnh vực phát triển đồng bộ. Với vị thế là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và giao dịch kinh tế của cả nước, thành phố Hà Nội luôn chú trọng đổi mới và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Tính đến quý I năm 2023, Hà Nội đã thu hút lũy kế khoảng 69,844 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xếp thứ 2 toàn quốc, đồng thời cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 9.995 doanh nghiệp thành lập mới.

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế toàn cầu và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), quá trình chuyển đổi xanh cùng việc thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe đối với công tác XTĐT. Thực tiễn tại Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hà Nội (HPA) giai đoạn 2018 – 2022 cho thấy hoạt động XTĐT vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn:

  • Bộ máy tổ chức XTĐT trên địa bàn thành phố còn phân tán ở nhiều Sở, Ban, ngành, chưa có một cơ chế quản lý và điều phối tập trung xuyên suốt;
  • Cơ chế phối hợp liên ngành giữa HPA và các cơ quan quản lý chuyên môn còn gặp nhiều vướng mắc, làm chậm tiến độ cung cấp và xử lý thông tin cho nhà đầu tư;
  • Thiếu kênh thông tin chủ lực, chính thống và cập nhật kịp thời các chủ trương, định hướng, dự án kêu gọi đầu tư của thành phố.

Xuất phát từ thực trạng trên, học viên Nguyễn Thị Minh Thảo đã thực hiện đề án tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế tại Trường Đại học Ngoại thương với đề tài: "Giải pháp thúc đẩy hoạt động xúc tiến đầu tư tại Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hà Nội".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục tiêu tổng quát của đề án là đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động XTĐT tại HPA giai đoạn 2023 – 2025. Để đạt được mục tiêu này, đề án giải quyết ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động XTĐT của cơ quan XTĐT cấp tỉnh;
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác XTĐT tại HPA trong giai đoạn 2018 – 2022;
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động XTĐT tại HPA giai đoạn 2023 – 2025.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xúc tiến đầu tư của Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hà Nội (HPA).
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2018 – 2022 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2023 – 2025.
  • Phạm vi nội dung: Các nội dung, công cụ, nguồn lực và cơ chế phối hợp trong hoạt động XTĐT của HPA theo quy định pháp luật hiện hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Đề án tiếp cận hoạt động XTĐT qua các định nghĩa học thuật quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam:

  • Theo Dự án Sáng kiến Thành phố Thiên niên kỷ (Millennium Cities Initiatives - Đại học Columbia, 2006): XTĐT là hoạt động chủ động tìm kiếm cơ hội mang lại cho nhà đầu tư tiềm năng, cung cấp vốn, việc làm, kỹ năng, công nghệ và thúc đẩy năng suất, đổi mới tại địa phương.
  • Theo Wint (1990): XTĐT là hoạt động phổ biến thông tin, xây dựng hình ảnh địa điểm đầu tư và cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư tiềm năng, vận dụng các kỹ thuật tiếp thị để khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin.
  • Khái niệm tổng hợp của tác giả: XTĐT là tổng thể các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền nhằm thu hút các cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước đến địa phương để đầu tư, mang lại các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội.

Đề án phân tích vai trò của XTĐT qua 3 khía cạnh: Đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư; Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật; Mở rộng cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế.

Nội dung hoạt động XTĐT được chuẩn hóa theo 8 nhiệm vụ quy định tại Điều 88 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP của Chính phủ và 4 nhóm nghiệp vụ của Hiệp hội các Tổ chức Xúc tiến Đầu tư Thế giới (WAIPA). Đồng thời, đề án tham chiếu mô hình tổ chức XTĐT tại một số quốc gia: Invest in Denmark (Đan Mạch), MIDA (Malaysia), EDB (Singapore) và Invest in Canada (Canada).

Khung phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả XTĐT cấp tỉnh gồm:

  • Yếu tố nội bộ địa phương: Chiến lược XTĐT; Nguồn lực được giao (cơ sở vật chất, nhân lực, kinh phí); Mô hình tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan XTĐT.
  • Yếu tố môi trường đầu tư bên ngoài: Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế, sự ổn định chính trị - pháp lý, hiệu lực quản lý nhà nước, trình độ công nghệ, nguồn nhân lực, văn hóa - ngôn ngữ, dung lượng thị trường, chi phí nguyên vật liệu, thị trường vốn và sự phối hợp liên ngành.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Đề án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp phân tích tài liệu:

  • Phương pháp thu thập, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp: Hệ thống hóa các chỉ tiêu biên chế, ngân sách, số lượng chương trình xúc tiến và kết quả cấp phép đầu tư.
  • Phương pháp suy luận logic (diễn dịch và tổng phân hợp): Luận giải mối quan hệ giữa thể chế, mô hình tổ chức và hiệu quả xúc tiến thực tế.
  • Phương pháp quan sát thực tiễn: Ghi nhận quá trình vận hành, thẩm định dự án và phối hợp công tác giữa HPA với các Sở, Ban, ngành tại Hà Nội.
  • Phương pháp đánh giá: Đánh giá qua tiêu chí đầu ra (dự án, vốn, việc làm, cơ cấu ngành, thời gian xử lý, mức độ hài lòng) và so sánh thực tiễn giữa các địa phương.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết công tác năm, kế hoạch và đề án XTĐT giai đoạn 2018 – 2022 của HPA; số liệu công bố trên Cổng thông tin điện tử UBND TP Hà Nội, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hà Nội, UBND các quận/huyện; các văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định 31/2021/NĐ-CP, Quyết định 03/2014/QĐ-TTg, Quyết định 38/QĐ-TTg, Quyết định 441/QĐ-UBND, Quyết định 6404/QĐ-UBND).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xúc tiến đầu tư của cơ quan Xúc tiến Đầu tư cấp tỉnh

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về XTĐT, làm rõ cấu trúc bộ máy và các công cụ triển khai ở cấp địa phương.

1. Phân công nhiệm vụ và tổ chức bộ máy XTĐT tại Việt Nam Theo Điều 90 và Điều 91 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP, bộ máy XTĐT tại Việt Nam được phân cấp cụ thể:

  • Cấp Trung ương: Bộ Kế hoạch và Đầu tư giữ vai trò quản lý nhà nước, hướng dẫn và điều phối Chương trình XTĐT quốc gia; Cục Đầu tư nước ngoài trực tiếp chủ trì các hoạt động chuyên môn.
  • Cấp tỉnh: Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện quản lý nhà nước; các Trung tâm XTĐT (hoặc Trung tâm XTĐT, Thương mại và Du lịch) trực tiếp triển khai nhiệm vụ.
  • Cấp huyện: Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh tế - Hạ tầng phụ trách theo dõi và phối hợp.
Cấp hành chính Đơn vị Quản lý nhà nước Đơn vị chủ trì hoạt động XTĐT
Cấp Bộ Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cục Đầu tư nước ngoài
Cấp Tỉnh Sở Kế hoạch và Đầu tư Trung tâm XTĐT / Trung tâm XTĐT, Thương mại, Du lịch
Cấp Huyện Phòng Kinh tế / Phòng Kinh tế - Hạ tầng Phòng Kinh tế / Phòng Kinh tế - Hạ tầng

2. Đánh giá ưu điểm và hạn chế của bộ máy XTĐT tại Việt Nam

  • Ưu điểm: Triển khai công tác xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương; nội dung phong phú, kết hợp giữa chương trình quốc gia và địa phương; đa dạng hóa kênh tiếp cận cho doanh nghiệp.
  • Nhược điểm: Nguy cơ chồng chéo nhiệm vụ giữa các cấp (ví dụ: Trung tâm XTĐT miền Bắc phụ trách 29 tỉnh phía Bắc trong khi mỗi tỉnh đều có đầu mối xúc tiến riêng); mô hình nhiều đầu mối làm tăng chỉ tiêu biên chế và quỹ lương; việc Sở Kế hoạch và Đầu tư vừa quản lý vừa tổ chức xúc tiến khiến hoạt động tại một số địa phương bị dàn trải.

3. Thống kê mô hình tổ chức cơ quan XTĐT cấp tỉnh Khảo sát 64 cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tại Việt Nam cho thấy sự phân hóa về mô hình trực thuộc:

Cơ quan chủ quản Số lượng địa phương Tỷ lệ (%)
Trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư 29 45,31%
Trực thuộc UBND tỉnh/thành phố 19 29,69%
Trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh 5 7,81%
Trực thuộc Sở Công thương 1 1,56%
Trực thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế/KCN 1 1,56%
Không thành lập đơn vị riêng 9 14,06%
Tổng cộng 64 100%

4. Phân nhóm công cụ xúc tiến đầu tư cấp tỉnh Tác giả phân chia các công cụ XTĐT thành 3 nhóm nghiệp vụ:

  • Nhóm nghiên cứu: Thu thập thông tin, lập cơ sở dữ liệu, xây dựng tài liệu, tổ chức đoàn nghiên cứu, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp. Ưu điểm là cung cấp căn cứ hoạch định chính sách; hạn chế là tốn kém thời gian và kinh phí, cổng dữ liệu địa phương thường chậm cập nhật.
  • Nhóm hoạt động cụ thể: Tổ chức hội nghị, diễn đàn, tọa đàm, đối thoại chính quyền - doanh nghiệp, kết nối đối tác. Ưu điểm là tiếp cận trực tiếp nhà đầu tư; hạn chế là thiếu tiêu chí đo lường hiệu quả sau sự kiện, các buổi đối thoại đôi khi còn mang tính hình thức.
  • Nhóm truyền thông: Ban hành ấn phẩm, cẩm nang đầu tư, danh mục dự án kêu gọi, quảng bá qua phương tiện thông tin đại chúng. Ưu điểm là hỗ trợ nhận diện địa phương; hạn chế là nội dung video/phóng sự đa phương tiện còn đơn điệu, thông tin chưa tối ưu cho nhà đầu tư nước ngoài.

Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến đầu tư tại Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2018 – 2022

Chương 2 phân tích quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức, nguồn lực và kết quả thực hiện các nội dung XTĐT tại HPA.

1. Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của HPA

  • Quá trình thành lập: Tiền thân là Trung tâm XTĐT thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội (2007). Sau khi mở rộng địa giới hành chính Hà Nội năm 2008 (Nghị quyết 15/2008/NQ-QH11, diện tích ~3.400 km², dân số ~6,3 triệu người), Trung tâm XTĐT Hà Nội được hợp nhất theo Quyết định 2101/QĐ-UBND.
  • Mô hình đa ngành: Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 38/QĐ-TTg thành lập HPA trực thuộc UBND TP Hà Nội trên cơ sở hợp nhất 4 đơn vị (thuộc Sở KH&ĐT, Sở Công thương, Sở VHTTDL, Ban Quản lý KCN & Chế xuất). Năm 2017, theo Quyết định 441/QĐ-UBND, HPA tiếp nhận thêm Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nông nghiệp (Sở NN&PTNT) và Trung tâm Dịch vụ Đối ngoại (Sở Ngoại vụ).
  • Cơ cấu bộ máy: HPA gồm Giám đốc, không quá 03 Phó Giám đốc, 06 đơn vị trực thuộc (04 phòng xúc tiến chuyên môn: Phòng XTĐT, Phòng Xúc tiến Du lịch, Phòng Xúc tiến Thương mại, Phòng Xúc tiến Nông nghiệp; 01 Phòng Truyền thông; 01 Văn phòng).

2. Phân công triển khai XTĐT trên địa bàn thành phố Theo Quyết định số 6404/QĐ-UBND ngày 14/09/2017 của UBND TP Hà Nội, trách nhiệm được phân định rõ:

Nội dung công việc UBND TP Hà Nội HPA Sở KH&ĐT Các Sở, Ban, ngành khác
Quản lý nhà nước về đầu tư X
Đầu mối chủ trì, xây dựng chương trình xúc tiến X
Phê duyệt chương trình xúc tiến X
Sử dụng kinh phí (ngân sách, xã hội hóa) X X X X

3. Phân tích các yếu tố nội bộ ảnh hưởng đến hoạt động của HPA

  • Chiến lược: Giai đoạn 2018 – 2022, Hà Nội chưa ban hành chiến lược XTĐT độc lập mà chỉ có Chương trình xúc tiến tích hợp chung hàng năm giữa ba lĩnh vực Đầu tư - Thương mại - Du lịch. Đến năm 2021, HPA mới chủ trì xây dựng Đề án XTĐT, thương mại, du lịch thành phố Hà Nội giai đoạn 2022 – 2025, định hướng 2030.
  • Nguồn nhân lực:
    • Biên chế: Giai đoạn 2018 – 2022 được giao trung bình 91 chỉ tiêu biên chế; thực tế sử dụng 87 biên chế viên chức (thiếu 04 chỉ tiêu) và 08 lao động hợp đồng theo Nghị định 111/2022/NĐ-CP. Giai đoạn 2019 và 2021 tuyển dụng bổ sung 20 viên chức.
    • Trình độ: 100% nhân sự đảm bảo sức khỏe; hơn 50 viên chức có trình độ cử nhân/kỹ sư, 36 thạc sĩ, 01 tiến sĩ. Toàn bộ nhân sự đáp ứng chuẩn ngoại ngữ tối thiểu A2 và chứng chỉ tin học cơ bản; nhiều cán bộ tốt nghiệp tại Anh, Nhật Bản, Trung Quốc.
    • Đánh giá xếp loại: Trung bình hàng năm 80% cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, 20% hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (năm 2021 có 01 trường hợp hoàn thành nhiệm vụ và đã chủ động xin thôi việc). Không có đơn thư khiếu nại về văn hóa ứng xử của cán bộ.
  • Hạn chế nội tại:
    • Thiếu chuyên gia am hiểu sâu về luật đầu tư quốc tế và kỹ năng phân tích, dự báo dữ liệu thị trường;
    • Khoảng cách kỹ năng: Cán bộ trẻ có ngoại ngữ tốt nhưng thiếu kinh nghiệm thực tế; cán bộ lâu năm gặp khó khăn khi thích ứng với công nghệ thông tin và chuyển đổi số;
    • Cơ chế tiền lương: Áp dụng bảng lương hành chính sự nghiệp (hệ số lương khởi điểm thạc sĩ 2,67 nhận khoảng hơn 4 triệu đồng/tháng), chênh lệch lớn so với khu vực doanh nghiệp (8 – 12 triệu đồng/tháng), gây khó khăn trong thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao;
    • Ngân sách: Kinh phí hàng năm thường phân bổ chậm (cuối quý II), quy trình lập dự toán và thanh quyết toán qua Kho bạc Nhà nước theo quy định hiện hành khiến HPA bị động trong việc triển khai các chương trình quý I và các hoạt động thuê tư vấn, in ấn.

4. Đánh giá chung về thành tựu và hạn chế giai đoạn 2018 – 2022

  • Thành tựu: Giữ vững vai trò đầu mối điều phối xúc tiến của Thủ đô; tổ chức thành công nhiều chương trình kết nối quốc tế (tiêu biểu như sự kiện xúc tiến tại Viêng Chăn, Lào năm 2022); xây dựng môi trường công tác đoàn kết, kỷ cương.
  • Hạn chế: Hoạt động xúc tiến vẫn mang nặng tính tổ chức sự kiện hành chính; cơ sở dữ liệu số hóa chưa đồng bộ; sự phối hợp cung cấp thông tin quy hoạch từ các Sở chuyên ngành còn chậm.

Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động xúc tiến đầu tư tại Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch thành phố Hà Nội giai đoạn 2023 - 2025

Chương 3 đề xuất định hướng phát triển, nhóm giải pháp trực tiếp cho HPA cùng các kiến nghị gửi UBND TP Hà Nội và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

1. Định hướng và bối cảnh giai đoạn 2023 – 2025 Tập trung thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, thích ứng với biến đổi khí hậu và tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

2. Giải pháp thúc đẩy hoạt động XTĐT tại HPA

  • Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ: Đào tạo bồi dưỡng chuyên sâu kiến thức pháp luật đầu tư, kỹ năng đàm phán quốc tế, kỹ năng phân tích rào cản và cơ hội đầu tư của Hà Nội; tổ chức kiểm tra và chuẩn hóa năng lực định kỳ.
  • Ứng dụng chuyển đổi số: Xây dựng cổng thông tin xúc tiến đầu tư hiện đại, tích hợp dữ liệu số về quy hoạch khu/cụm công nghiệp, chính sách ưu đãi; đẩy mạnh hình thức tổ chức hội nghị và kết nối doanh nghiệp trực tuyến.
  • Đa dạng hóa hình thức xúc tiến: Tăng cường xúc tiến đầu tư tại chỗ thông qua việc đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho các nhà đầu tư hiện hữu; chuyển từ xúc tiến đại trà sang xúc tiến chuyên đề theo từng ngành/đối tác trọng điểm.
  • Đẩy mạnh hợp tác: Mở rộng liên kết với các cơ quan đại diện ngoại giao, hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài (EuroCham, AmCham, JETRO, KorCham) và các tổ chức xúc tiến quốc tế.

3. Kiến nghị đối với UBND thành phố Hà Nội

  • Tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ XTĐT cho cán bộ công chức, viên chức toàn thành phố;
  • Tăng cường phân cấp, trao quyền chủ động hơn cho HPA trong việc điều hành kinh phí và lựa chọn đối tác triển khai sự kiện;
  • Hoàn thiện cơ chế phối hợp bắt buộc giữa các Sở chuyên ngành (Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư) trong việc cung cấp thông tin dự án cho HPA;
  • Xây dựng mạng lưới hỗ trợ xúc tiến chuyên biệt dành cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).

4. Kiến nghị đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư

  • Nâng cấp và chia sẻ cơ sở dữ liệu thuộc Hệ thống thông tin quốc gia về xúc tiến đầu tư;
  • Hoàn thiện thể chế pháp lý, ban hành tiêu chí rõ ràng và bộ công cụ định lượng đánh giá hiệu quả hoạt động XTĐT địa phương;
  • Tăng cường chương trình tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ XTĐT các tỉnh, thành phố;
  • Đẩy mạnh quảng bá thương hiệu quốc gia tại các thị trường trọng điểm quốc tế.

Kết quả và đóng góp

  1. Về mặt số liệu và tư liệu: Đề án tổng hợp đầy đủ các số liệu về cơ cấu bộ máy xúc tiến cấp tỉnh trên toàn quốc (64 đơn vị), phân định chức năng của HPA qua các mốc sáp nhập 2015 và 2017, đồng thời công bố chi tiết thực trạng nhân sự (87 biên chế, 08 hợp đồng, cơ cấu trình độ 36 thạc sĩ, 01 tiến sĩ) và kết quả xếp loại thi đua tại HPA giai đoạn 2018 – 2022.
  2. Về mặt giải pháp: Xây dựng hệ thống giải pháp 3 cấp độ: giải pháp nội bộ tại đơn vị (nhân lực, công nghệ số, phương thức xúc tiến), kiến nghị cấp quản lý trực tiếp (UBND thành phố Hà Nội về cơ chế tài chính và phối hợp liên ngành) và kiến nghị cơ quan quản lý Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư về khung thể chế dữ liệu).
  3. Đóng góp học thuật và thực tiễn: Đề án làm rõ tính hai mặt của mô hình cơ quan xúc tiến hợp nhất đa ngành (Đầu tư - Thương mại - Du lịch - Nông nghiệp) tại đô thị đặc biệt, chỉ ra những rào cản thực tế về cơ chế tài chính công và phân bổ ngân sách chậm đối với tính linh hoạt của hoạt động xúc tiến thị trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu vào số liệu thứ cấp từ các báo cáo hành chính nội bộ của HPA và cơ quan quản lý nhà nước giai đoạn 2018 – 2022; chưa thực hiện khảo sát xã hội học diện rộng với mẫu định lượng lớn về mức độ hài lòng của cộng đồng nhà đầu tư FDI đối với các dịch vụ cụ thể của HPA.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Thiết kế bộ chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPIs) định lượng gắn liền chi phí xúc tiến với tỷ lệ vốn đầu tư giải ngân thực tế;
    • Khảo sát chuyên sâu tác động của các nền tảng xúc tiến số và công nghệ thực tế ảo đối với quyết định lựa chọn địa điểm của các nhà đầu tư công nghệ cao;
    • Mở rộng so sánh hiệu quả giữa mô hình cơ quan xúc tiến độc lập trực thuộc UBND cấp tỉnh và mô hình phòng xúc tiến trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Học viên, sinh viên các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Kinh tế quốc tế và Thương mại quốc tế;
    • Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên làm việc tại các Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch, Ban Quản lý Khu kinh tế, Khu công nghiệp tại các địa phương;
    • Chuyên viên tham mưu hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, thành phố.
  • Nội dung giá trị: Khung phân loại 3 nhóm công cụ xúc tiến đầu tư; tổng hợp văn bản pháp lý phân cấp nhiệm vụ XTĐT tại Việt Nam; bức tranh thực tế về vận hành nhân sự và cơ chế tài chính tại một đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động.

Câu hỏi thường gặp

1. HPA được hình thành dựa trên việc hợp nhất những cơ quan, đơn vị nào? HPA được thành lập theo Quyết định 38/QĐ-TTg ngày 13/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập 4 đơn vị: Trung tâm XTĐT (thuộc Sở KH&ĐT), Trung tâm Xúc tiến Thương mại (thuộc Sở Công thương), Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch (thuộc Sở VHTTDL), Trung tâm Thông tin và XTĐT (thuộc Ban Quản lý các KCN và Chế xuất Hà Nội). Đến năm 2017, theo Quyết định 441/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội, tiếp tục sáp nhập thêm 2 đơn vị: Trung tâm Xúc tiến Thương mại Nông nghiệp (thuộc Sở NN&PTNT) và Trung tâm Dịch vụ Đối ngoại (thuộc Sở Ngoại vụ).

2. Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự của HPA giai đoạn 2018 – 2022 có đặc điểm gì? HPA gồm Giám đốc, không quá 03 Phó Giám đốc, 04 phòng xúc tiến chuyên ngành (Đầu tư, Thương mại, Du lịch, Nông nghiệp), 01 phòng truyền thông và 01 văn phòng. Về nhân sự, đơn vị được giao 91 chỉ tiêu biên chế, thực tế sử dụng 87 biên chế viên chức và 08 hợp đồng lao động. Trình độ chuyên môn gồm hơn 50 cử nhân/kỹ sư, 36 thạc sĩ và 01 tiến sĩ; 100% cán bộ đạt chuẩn sức khỏe và trình độ ngoại ngữ/tin học đầu vào theo quy định.

3. Trên phạm vi cả nước, cơ quan XTĐT cấp tỉnh hiện được tổ chức theo những mô hình nào? Theo thống kê trong đề án đối với 64 cơ quan cấp tỉnh: 29 đơn vị trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư; 19 đơn vị trực thuộc UBND cấp tỉnh; 5 đơn vị trực thuộc Văn phòng UBND tỉnh; 1 đơn vị trực thuộc Sở Công thương; 1 đơn vị trực thuộc Ban Quản lý tỉnh; và 9 địa phương không thành lập đơn vị xúc tiến chuyên trách riêng.

4. Điểm nghẽn lớn nhất về cơ chế tài chính ảnh hưởng đến hoạt động XTĐT tại HPA là gì? Kinh phí hoạt động của HPA phụ thuộc vào ngân sách thành phố nhưng thời điểm phân bổ thường vào cuối quý II hàng năm, gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động trong nửa đầu năm. Ngoài ra, quy trình lập dự toán, thẩm định và thanh quyết toán theo quy định tài chính công khiến việc thuê đơn vị tư vấn, thiết kế ấn phẩm và triển khai các sự kiện đột xuất thiếu tính linh hoạt.

5. Đề án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào dành riêng cho HPA giai đoạn 2023 – 2025? HPA cần tập trung vào 4 nhóm giải pháp trực tiếp: Nâng cao trình độ pháp lý và kỹ năng phân tích thị trường cho đội ngũ cán bộ; Ứng dụng chuyển đổi số và số hóa cơ sở dữ liệu xúc tiến; Đa dạng hóa các hình thức xúc tiến (tập trung xúc tiến tại chỗ và theo chuyên đề); Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các đại sứ quán và hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài.


Kết luận

Đề án tốt nghiệp của học viên Nguyễn Thị Minh Thảo đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp lý về hoạt động xúc tiến đầu tư cấp tỉnh tại Việt Nam. Thông qua phân tích thực trạng tại HPA giai đoạn 2018 – 2022, tác giả đã chỉ rõ những điểm mạnh về quy mô tổ chức cũng như các hạn chế về cơ chế phối hợp, nguồn nhân lực và thủ tục tài chính. Hệ thống giải pháp và kiến nghị giai đoạn 2023 – 2025 được xây dựng bám sát thực tiễn quản lý, đóng góp tư liệu có giá trị cho công tác điều hành và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư tại thành phố Hà Nội.