Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế và tinh gọn bộ máy hành chính công theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, việc hợp nhất và đổi mới các đơn vị quản lý chuyên ngành là đòi hỏi tất yếu. Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đóng vai trò trụ đỡ của nền kinh tế Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 28,9 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2023. Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập sâu rộng cùng 19 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đã và đang đàm phán, tổ chức bộ máy hành chính quản lý nông sản phải vượt qua sự phân mảnh truyền thống giữa khâu quản lý chất lượng, chế biến và xúc tiến thương mại.

Thực hiện Nghị định số 105/2022/NĐ-CP của Chính phủ, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường được thành lập vào ngày 05/05/2023 trên cơ sở hợp nhất Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản cùng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản. Nghiên cứu này được triển khai nhằm đánh giá toàn diện quá trình chuyển giao, phân tích hiện trạng tổ chức bộ máy, nhân sự và hoạt động chuyên môn tại đơn vị trong giai đoạn 2023 - 2024. Mục tiêu cụ thể là xây dựng hệ thống giải pháp và lộ trình đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động giai đoạn 2024 - 2030, hướng đến mục tiêu chuẩn hóa 100% quy trình nghiệp vụ, tối ưu hóa nguồn nhân lực gồm 532 cán bộ công chức, viên chức và mở rộng năng lực cạnh tranh nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tổ chức hành chính nhà nước hiện đại và lý thuyết quản trị công mới (New Public Management - NPM) làm nền tảng phân tích. Trọng tâm của khung lý thuyết tập trung vào mối quan hệ hữu cơ giữa chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy. Tổ chức hành chính nhà nước được định nghĩa là hệ thống thiết chế mang tính quyền lực công, thực hiện chức năng chấp hành và điều hành nhằm hiện thực hóa các mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình tinh gọn bộ máy (Lean Administration) kết hợp nguyên tắc phân công, phân cấp và ủy quyền hành chính. Mô hình này nhấn mạnh việc cắt giảm cấp trung gian, loại bỏ sự chồng chéo chức năng giữa các phòng ban tham mưu và đơn vị sự nghiệp phục vụ. Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: thẩm quyền hành chính công, chuỗi giá trị nông sản khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ, và năng lực thích ứng của tổ chức công vụ trước các rào cản kỹ thuật thương mại quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu kết hợp phân tích thống kê mô tả và tổng kết thực tiễn hành chính. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thống kê chuyên ngành và hồ sơ nhân sự theo Công văn số 162/CCPT-VP ngày 24/01/2024 của Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 100% cơ cấu trực thuộc của Cục với 09 phòng chuyên môn tham mưu, 03 Chi cục khu vực và 07 Trung tâm sự nghiệp công lập tại 6 vùng kinh tế trọng điểm. Tổng quy mô khảo sát nhân sự gồm 532 người (80 công chức, 221 viên chức và 227 lao động hợp đồng). Mẫu dữ liệu hoạt động chuyên môn rà soát toàn diện kết quả kiểm tra tại 8.773 cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và 7.655 mẫu giám sát an toàn thực phẩm trong nửa đầu năm 2024. Phương pháp chọn mẫu toàn phần được lựa chọn nhằm đảm bảo tính bao quát, phản ánh chính xác cấu trúc tổ chức sau sáp nhập và loại bỏ sai số trong đánh giá hiệu quả vận hành công vụ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động tại Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường đã chỉ ra những chuyển biến rõ rệt cùng nhiều thách thức nội tại:

  • Cơ cấu tổ chức và nhân sự sau sáp nhập: Tính đến ngày 31/12/2023, tổng nhân sự toàn hệ thống là 532 người. Trong đó, khối công chức quản lý chiếm 15% (80 người), khối viên chức sự nghiệp chiếm 42% (221 người) và lao động hợp đồng chiếm 43% (227 người). Trình độ chuyên môn đạt mức cao với 86% nhân sự có trình độ đại học trở lên, bao gồm 12 Tiến sĩ (2%), 128 Thạc sĩ (24%) và 319 Cử nhân, Kỹ sư (60%). Tỷ lệ nhân sự nữ đạt 40% (214 người), phản ánh cơ cấu giới tính cân bằng trong quản lý công.
  • Tiến độ kiện toàn thể chế bộ máy: Cục đã hoàn thành sắp xếp 09 phòng chức năng tại cơ quan trung ương. Tuy nhiên, việc ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc bị kéo dài đến tháng 02/2024 mới hoàn tất cho 09/10 đơn vị. Riêng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường khu vực Trung du và miền núi phía Bắc vẫn chưa thể chính thức vận hành do vướng mắc về trụ sở và nguồn lực.
  • Hiệu quả xử lý rào cản kỹ thuật và xúc tiến thương mại: Sau hợp nhất, việc kết nối thông tin an toàn thực phẩm với đàm phán mở cửa thị trường được rút ngắn đáng kể. Đến giữa năm 2024, Cục đã hỗ trợ duy trì và mở rộng 7.558 mã số vùng trồng xuất khẩu tại 56 tỉnh thành, 1.558 mã số cơ sở đóng gói và hàng ngàn doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu sang Hàn Quốc (777 cơ sở), Indonesia (836 cơ sở), Đài Loan (773 cơ sở) và EU (522 cơ sở).
  • Kết quả thanh tra và kiểm soát an toàn thực phẩm: Trong 6 tháng đầu năm 2024, toàn ngành đã thanh tra 8.773 cơ sở, xử phạt hành chính 901 cơ sở (chiếm 10,2%, tăng so với mức 8,79% cùng kỳ năm 2023) với tổng số tiền phạt đạt 11,23 tỷ đồng (tăng 57% so với mức 7,15 tỷ đồng năm 2023). Tỷ lệ cơ sở duy trì đủ điều kiện an toàn thực phẩm xếp loại A/B đạt 99,4% trên tổng số 8.146 cơ sở được thẩm định.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và biến động nhân sự có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua sơ đồ cây phân cấp kết hợp biểu đồ cột phân bố trình độ chuyên môn giữa 09 phòng tham mưu và 07 Trung tâm vùng. Biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 86% nhân lực có trình độ sau đại học và đại học là minh chứng rõ nét cho năng lực tiếp thu các chuẩn mực kỹ thuật quốc tế của Cục.

Nguyên nhân của những kết quả tích cực xuất phát từ việc xóa bỏ ranh giới hành chính giữa hai cục tiền thân. Trước đây, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản đàm phán FTA nhưng phải chờ số liệu an toàn thực phẩm từ Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản qua văn bản giấy tờ mất nhiều tuần. Khi hợp nhất, quy trình xử lý nội bộ được rút ngắn chỉ còn tính bằng ngày. Tuy nhiên, việc bãi bỏ cơ chế tài chính đặc thù theo Quyết định số 17/2020/QĐ-TTg từ năm 2024 đã tác động trực tiếp đến thu nhập của 532 cán bộ, tạo áp lực duy trì động lực làm việc. Đồng thời, việc cơ quan Cục phải ôm đồm kiêm nhiệm quản lý địa bàn miền núi phía Bắc cho thấy sự thiếu đồng bộ về phân bổ hạ tầng công vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực tiễn, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Cục giai đoạn 2024 - 2030:

  • Kiện toàn mạng lưới bộ máy trực thuộc: Ban Lãnh đạo Cục cần chủ trì phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ hoàn thiện thủ tục bố trí trụ sở, biên chế để đưa Chi cục khu vực Trung du và miền núi phía Bắc đi vào vận hành chính thức trong năm 2025; đồng thời ban hành quy chế phối hợp chuẩn hóa giữa 09 phòng tham mưu và 07 Trung tâm vùng nhằm loại bỏ 100% hiện tượng đùn đẩy văn bản.
  • Hiện đại hóa hạ tầng kiểm nghiệm và chuyển đổi số: Đầu tư nâng cấp 07 Trung tâm Chất lượng vùng đạt chuẩn ISO/IEC 17025:2017, tích hợp nền tảng dữ liệu số quản lý 7.558 mã số vùng trồng và 1.558 cơ sở đóng gói; mục tiêu đến năm 2026 xử lý 100% hồ sơ chứng nhận kiểm dịch và xuất khẩu nông sản trên môi trường điện tử.
  • Chuẩn hóa công tác đào tạo cán bộ theo vị trí việc làm: Tổ chức bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng điều tra rào cản kỹ thuật (SPS/TBT) và pháp luật thương mại quốc tế cho ít nhất 200 lượt công chức, viên chức mỗi năm; phấn đấu đến năm 2028 có trên 40% cán bộ làm công tác thị trường sử dụng thành thạo từ hai ngoại ngữ.
  • Hoàn thiện thể chế và phát triển logistics chuỗi cung ứng: Tham mưu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển hệ thống dịch vụ Logistics nông sản đến năm 2030, hướng tới mục tiêu giảm tổn thất sau thu hoạch xuống dưới 10% đối với rau quả và thủy sản.
  • Xây dựng chính sách đãi ngộ và tạo nguồn thu sự nghiệp: Tái cơ cấu 07 đơn vị sự nghiệp theo hướng tự chủ tài chính nhóm 2, đẩy mạnh dịch vụ thử nghiệm, kiểm nghiệm kiểm chứng theo yêu cầu xã hội hóa để bù đắp thu nhập cho 221 viên chức và 222 lao động hợp đồng sau khi kết thúc cơ chế tài chính đặc thù.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và lý luận sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Lãnh đạo và chuyên viên cơ quan quản lý nông nghiệp: Cung cấp bức tranh thực tế về mô hình sắp xếp tổ chức bộ máy, kinh nghiệm xử lý khủng hoảng sau sáp nhập và giải pháp quản lý chuỗi giá trị nông sản an toàn.
  • Các nhà hoạch định chính sách và tổ chức cán bộ: Làm tài liệu tham khảo thực chứng để đánh giá tác động của Nghị quyết số 18-NQ/TW, phục vụ việc xây dựng đề án sắp xếp các cơ quan hành chính trực thuộc Bộ, ngành trung ương.
  • Doanh nghiệp và hiệp hội xuất khẩu nông lâm thủy sản: Nắm bắt rõ quy trình kiểm soát chất lượng, hệ thống 40 cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định và các kênh tháo gỡ rào cản kỹ thuật tại các thị trường FTA trọng điểm.
  • Học viên, nghiên cứu sinh ngành Quản lý công và Hành chính học: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh, hệ thống dữ liệu thực tế về cải cách tổ chức công vụ và mô hình đánh giá hiệu quả hoạt động hành pháp chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

  • Mục tiêu cốt lõi của việc hợp nhất Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường là gì?
    Việc hợp nhất nhằm tinh gọn bộ máy theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW, giảm đầu mối trung gian và gắn kết liền mạch ba khâu trọng yếu: quản lý an toàn chất lượng, chế biến gia tăng giá trị và mở rộng thị trường tiêu thụ cho nông sản Việt Nam.
  • Đâu là trở ngại lớn nhất về mặt nhân sự của Cục sau khi sáp nhập năm 2023?
    Trở ngại lớn nhất là sự khác biệt văn hóa công vụ giữa hai đơn vị tiền thân và việc bãi bỏ cơ chế tài chính đặc thù từ năm 2024, gây ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của 532 cán bộ, công chức và người lao động toàn hệ thống.
  • Cục đã đạt được thành tựu nổi bật nào trong hoạt động hỗ trợ xuất khẩu nửa đầu năm 2024?
    Cục đã tham mưu đàm phán kỹ thuật hiệu quả, nâng tổng số cơ sở thủy sản được phép xuất khẩu sang Hàn Quốc lên 777 cơ sở, EU lên 522 cơ sở, Trung Quốc lên 662 cơ sở và duy trì quản lý 7.558 mã số vùng trồng xuất khẩu trên cả nước.
  • Tại sao Chi cục khu vực Trung du và miền núi phía Bắc chưa thể đi vào hoạt động?
    Do những khó khăn khách quan trong việc bố trí trụ sở làm việc, phân bổ biên chế và sắp xếp nguồn lực chuyển giao từ Chi cục vùng 1 cũ, dẫn đến việc cơ quan Cục trung ương phải tạm thời kiêm nhiệm quản lý địa bàn.
  • Luận văn đề xuất giải pháp đột phá nào để nâng cao năng lực kiểm định chất lượng nông sản?
    Luận văn đề xuất hiện đại hóa 07 Trung tâm vùng theo tiêu chuẩn quốc tế, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động kiểm nghiệm và chuyển đổi số toàn diện dữ liệu truy xuất nguồn gốc để phục vụ thông quan nông sản xuất khẩu 24/7.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tổ chức hành chính nhà nước và tinh gọn bộ máy trong quản lý nông nghiệp hiện đại.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng chuyển đổi mô hình của Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường với quy mô 532 nhân sự và mạng lưới 10 đơn vị trực thuộc.
  • Phân tích đa chiều các kết quả đạt được trong quản lý an toàn thực phẩm, xử lý rào cản FTA và thanh tra xử phạt 901 cơ sở vi phạm với 11,23 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2024.
  • Đóng góp hệ thống 5 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, có lộ trình phân kỳ cụ thể từ 2024 đến năm 2030 cho các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về cơ chế tự chủ tài chính cho các trung tâm kiểm nghiệm vùng và chuyển đổi số toàn diện chuỗi cung ứng nông sản công nghệ cao.