Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tác động sâu rộng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chất lượng đội ngũ công chức giữ vai trò quyết định đến hiệu lực quản trị công. Tại Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến ngày 31/12/2023, cơ quan đang quản lý 585 công chức làm việc tại 18 tổ chức hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Mặc dù hơn 65% công chức sở hữu trình độ sau đại học (Thạc sĩ và Tiến sĩ) và 78% thuộc độ tuổi từ 31 đến 50 tuổi, công tác bồi dưỡng chuyên môn thực tiễn vẫn đối mặt với nhiều rào cản.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề án xuất phát từ thực trạng các chương trình bồi dưỡng hiện nay chủ yếu tập trung vào đáp ứng tiêu chuẩn ngạch và lý luận chính trị, trong khi nội dung đào tạo chuyên sâu theo vị trí việc làm còn thiếu hụt và chưa được phân bổ ngân sách tương xứng. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng công tác bồi dưỡng công chức giai đoạn 2016 - 2023, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2024 - 2030.

Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại các tổ chức hành chính thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong khung thời gian từ năm 2016 đến nay. Ý nghĩa của đề án được lượng hóa thông qua việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuẩn hóa cho 10 nhóm với 31 vị trí việc làm chuyên ngành theo Thông tư 16/2023/TT-BKHCN, hướng tới mục tiêu 100% công chức hoàn thành các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu trước năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Quản lý nguồn nhân lực khu vực công hiện đại và mô hình Đào tạo, bồi dưỡng dựa trên năng lực (Competency-based Training - CBT). Các mô hình này nhấn mạnh việc phát triển kỹ năng thực thi công vụ dựa trên khoảng trống năng lực thực tế giữa yêu cầu công việc và năng lực hiện tại của công chức.

Khung lý thuyết của đề án làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Bồi dưỡng công chức: Hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng và phương pháp làm việc theo quy định tại Nghị định 101/2017/NĐ-CP và Nghị định 89/2021/NĐ-CP.
  • Vị trí việc làm (VTVL): Công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí nhân sự theo Nghị định 62/2020/NĐ-CP.
  • Khung năng lực công vụ: Hệ thống các chuẩn mực về kiến thức chuyên môn, kỹ năng tác nghiệp và thái độ công vụ cần thiết cho từng nhóm chức danh.
  • Tính chất công việc của công chức cấp Bộ: Hoạt động lao động trí tuệ tập trung vào nghiên cứu, tham mưu, hoạch định chính sách vĩ mô với sản phẩm mang tính trừu tượng và tác động trên phạm vi cả nước.

Đồng thời, đề án tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế từ Singapore với quy trình đào tạo 5 giai đoạn liên tục suốt đời; Cộng hòa Pháp với quy định công chức có quyền yêu cầu bồi dưỡng sau 3 năm công tác và thời lượng thực hành chiếm tối thiểu 50%; cùng mô hình đào tạo gắn với từng vị trí việc làm cụ thể của Trung Quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu kết hợp giữa tài liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng trong toàn bộ giai đoạn 2016 - 2023. Đề án áp dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Bộ Khoa học và Công nghệ, và hồ sơ quản lý công chức.

Về phương pháp định tính và định lượng, tác giả thực hiện:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu định lượng bao gồm toàn bộ 585 hồ sơ công chức thuộc 18 tổ chức hành chính của Bộ; kết hợp phỏng vấn sâu 25 cán bộ quản lý và chuyên viên nhân sự tại Vụ Tổ chức cán bộ và Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, xử lý và phân loại dữ liệu qua các bảng tổng hợp và biểu đồ về cơ cấu trình độ, độ tuổi, các lớp bồi dưỡng trong nước và nước ngoài.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp phân tích chuỗi thời gian so sánh giữa hai giai đoạn 2016 - 2020 và 2021 - 2023 với dữ liệu phỏng vấn sâu giúp nhận diện chính xác nguyên nhân gốc rễ của những hạn chế nội tại, đảm bảo tính khách quan và khả thi cho các đề xuất chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng công chức tại Bộ Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2016 - 2023 đã làm rõ 4 phát hiện quan trọng:

  • Quy mô tham gia bồi dưỡng trong nước tăng trưởng vượt bậc: Tổng cộng có 792 lượt công chức tham gia bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo vị trí việc làm. Trong đó, giai đoạn 2021 - 2023 đạt 454 lượt, tăng 34,3% so với mức 338 lượt của giai đoạn 2016 - 2020. Bộ đã cử 457 lượt công chức bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo ngạch (trong đó chuyên viên chiếm 52,3%, chuyên viên chính chiếm 38,9%), 391 lượt bồi dưỡng quốc phòng - an ninh và 187 lượt bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý.
  • Tổ chức lớp học nội bộ có sự thích ứng linh hoạt: Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã tổ chức 53 khóa bồi dưỡng nội bộ. Đáng chú ý, việc thí điểm đào tạo từ xa theo Quyết định 2195/QĐ-BKHCN năm 2021 đã giúp số lớp bồi dưỡng theo vị trí việc làm tăng từ 2 lớp (55 học viên) năm 2020 lên 8 lớp (465 học viên) vào năm 2023.
  • Biến động lớn trong công tác bồi dưỡng nước ngoài: Toàn giai đoạn có 406 lượt công chức được bồi dưỡng ở nước ngoài. Tuy nhiên, 84,5% số lượt tập trung trong giai đoạn 2016 - 2020 (343 lượt). Do ảnh hưởng của dịch bệnh và thay đổi chính sách, giai đoạn 2021 - 2023 chỉ đạt 63 lượt, chủ yếu là các khóa bồi dưỡng ngắn hạn dưới 1 tháng (62/63 lượt, chiếm 98,4%).
  • Hạn chế về hạ tầng và cơ cấu kinh phí: Cơ sở vật chất tại 38 Ngô Quyền với tổng diện tích sử dụng 1.786,6 m2 cơ bản đáp ứng các lớp học trực tiếp nhưng thiếu trang thiết bị cho các khóa đào tạo trực tuyến quy mô lớn. Nguồn kinh phí sự nghiệp giáo dục chủ yếu chi trả cho bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch và lý luận chính trị, khiến nguồn lực cho 31 vị trí việc làm đặc thù bị giới hạn.

Thảo luận kết quả

Khi đánh giá tổng thể dữ liệu nghiên cứu, thực trạng trên có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ hình cột so sánh cơ cấu lượt bồi dưỡng giữa hai giai đoạn và bảng phân bổ năng lực theo vị trí việc làm. Tỷ trọng bồi dưỡng lý thuyết quản lý nhà nước chiếm tới trên 60% tổng thời lượng các khóa học, trong khi chương trình bồi dưỡng chuyên ngành theo Quyết định 2964/QĐ-BKHCN chỉ có thời lượng 40 tiết (1 tuần).

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch này là việc áp dụng khung đánh giá chất lượng theo Thông tư 03/2023/TT-BNV chưa được lượng hóa thành các tiêu chí tác nghiệp cụ thể cho ngành khoa học công nghệ. So sánh với kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp (dành 50% thời lượng cho xử lý tình huống thực tế), các khóa bồi dưỡng của Bộ hiện nay thiếu vắng các case study phức tạp về sở hữu trí tuệ, an toàn hạt nhân và chuyển giao công nghệ. Đội ngũ giảng viên cơ hữu của Học viện gồm gần 90 biên chế (trong đó có 2 Phó Giáo sư, Tiến sĩ và 11 Tiến sĩ) có chuyên môn cao nhưng còn thiếu các chuyên gia thực tế kiêm nhiệm am hiểu sâu về công nghệ cao và đàm phán quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác bồi dưỡng công chức tại Bộ Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2024 - 2030, đề án đưa ra 4 nhóm giải pháp đột phá:

  • Hoàn thiện thể chế và chính sách bồi dưỡng theo vị trí việc làm: Vụ Tổ chức cán bộ chủ trì phối hợp với các đơn vị trực thuộc rà soát, chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng dựa trên bản mô tả công việc của 31 vị trí việc làm chuyên ngành theo Thông tư 16/2023/TT-BKHCN. Mục tiêu đến năm 2026 hoàn thành 100% tài liệu bồi dưỡng chuẩn hóa, áp dụng cho toàn bộ 585 công chức của Bộ.
  • Đổi mới nội dung, phương pháp và tăng thời lượng thực hành: Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cải tiến kết cấu chương trình bồi dưỡng 40 tiết hiện hành theo tỷ lệ 50% lý thuyết - 50% thực hành và giải quyết tình huống thực tế. Đưa các nội dung chuyển đổi số, an toàn bức xạ hạt nhân, quản lý tài sản trí tuệ vào giảng dạy thường xuyên từ quý 1/2025.
  • Chuẩn hóa và phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức: Xây dựng mạng lưới hơn 50 chuyên gia đầu ngành, lãnh đạo cấp Cục, Vụ và các nhà khoa học từ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia tham gia giảng dạy. Triển khai kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng sư phạm hiện đại cho 100% giảng viên kiêm nhiệm trong giai đoạn 2024 - 2027.
  • Đa dạng hóa nguồn lực tài chính và mở rộng hợp tác quốc tế: Tăng tỷ trọng ngân sách sự nghiệp khoa học dành riêng cho đào tạo chuyên sâu lên mức tối thiểu 30% tổng kinh phí bồi dưỡng hàng năm. Tái khởi động các thỏa thuận hợp tác quốc tế nhằm cử 50 - 70 lượt công chức/năm đi đào tạo ngắn hạn tại Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc và Singapore giai đoạn 2025 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Đề án mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm độc giả chuyên ngành:

  • Nhà quản lý và chuyên viên nhân sự tại các Bộ, ngành: Cung cấp quy trình bài bản để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng gắn chặt với danh mục vị trí việc làm và khung năng lực theo Nghị quyết 76/NQ-CP và Nghị định 62/2020/NĐ-CP.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo công vụ: Là tài liệu tham khảo giá trị tại Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về phương pháp luận thiết kế chương trình bồi dưỡng cho cơ quan hành chính trung ương.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh Quản lý công: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng chi tiết, phương pháp xử lý dữ liệu và hệ thống tài liệu tham khảo chuẩn mực về cải cách hành chính và đào tạo nhân lực công.
  • Công chức và viên chức ngành Khoa học và Công nghệ: Giúp người học tự nhận diện khoảng trống năng lực, chủ động đăng ký các khóa bồi dưỡng theo vị trí việc làm và định hình lộ trình phát triển nghề nghiệp cá nhân.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần chuyển trọng tâm từ bồi dưỡng theo ngạch sang vị trí việc làm?

Bồi dưỡng theo ngạch chỉ cung cấp kiến thức nền tảng về hành chính nhà nước. Việc chuyển đổi sang vị trí việc làm theo Nghị định 89/2021/NĐ-CP giúp trang bị chính xác kiến thức nghiệp vụ cho 31 vị trí việc làm chuyên ngành, xóa bỏ tình trạng học để hoàn thiện văn bằng và nâng cao trực tiếp hiệu quả công vụ.

Đội ngũ công chức Bộ Khoa học và Công nghệ có đặc thù trình độ như thế nào?

Tính đến cuối năm 2023, Bộ có 585 công chức với chất lượng chuyên môn rất cao: hơn 65% có trình độ Thạc sĩ và Tiến sĩ, 78% trong độ tuổi 31 - 50 tuổi. Do đó, nhu cầu bồi dưỡng không nằm ở bằng cấp cơ bản mà đòi hỏi cập nhật liên tục các xu hướng công nghệ mới.

Bồi dưỡng công chức ở nước ngoài giai đoạn 2016 - 2023 đạt kết quả gì nổi bật?

Bộ đã cử 406 lượt cán bộ, công chức tham gia bồi dưỡng tại nước ngoài, trong đó tổ chức các đoàn bồi dưỡng chuyên sâu tại Nhật Bản và Cộng hòa Liên bang Đức. Tuy nhiên, giai đoạn 2021 - 2023 chỉ đạt 63 lượt do ảnh hưởng của dịch bệnh, đặt ra yêu cầu phải phục hồi trong giai đoạn tới.

Khó khăn lớn nhất về nguồn lực bồi dưỡng tại Bộ hiện nay là gì?

Khó khăn lớn nhất là nguồn kinh phí sự nghiệp giáo dục chủ yếu phân bổ cho các lớp tiêu chuẩn ngạch và lý luận chính trị bắt buộc. Nguồn ngân sách dành riêng cho bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp, sở hữu trí tuệ và an toàn bức xạ theo vị trí việc làm còn rất hạn hẹp.

Lộ trình nâng cao chất lượng bồi dưỡng giai đoạn 2024 - 2030 được thiết lập ra sao?

Lộ trình chia làm 2 giai đoạn: 2024 - 2026 tập trung hoàn thiện 100% chương trình, giáo trình chuẩn hóa theo 31 vị trí việc làm; giai đoạn 2027 - 2030 mở rộng bồi dưỡng kỹ năng số, công nghệ chuyên sâu và đẩy mạnh các chương trình hợp tác quốc tế.

Kết luận

  • Đề án đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý hoạt động bồi dưỡng công chức tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp Bộ theo định hướng ứng dụng.
  • Đánh giá xác thực thực trạng bồi dưỡng 585 công chức Bộ Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2016 - 2023 qua các chỉ số cụ thể: 792 lượt bồi dưỡng theo vị trí việc làm, 457 lượt bồi dưỡng ngạch và 406 lượt đào tạo nước ngoài.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn về cơ cấu kinh phí, tính thực hành của chương trình bồi dưỡng 40 tiết và sự thiếu hụt giảng viên chuyên sâu trong các lĩnh vực công nghệ đặc thù.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với Thông tư 16/2023/TT-BKHCN và Nghị quyết 76/NQ-CP, tạo cơ sở để Vụ Tổ chức cán bộ triển khai hiệu quả trong giai đoạn 2024 - 2030.
  • Đây là công trình nghiên cứu công phu, cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc; các đơn vị quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác và áp dụng trực tiếp mô hình này vào công tác phát triển nhân lực công.