CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan điêm hoạt động và việc vận dụng quan diêm hoạt động trong dạy học môn Toán 1. Quan niệm về hoạt động Hoạt động là một phạm trù rộng lớn, có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động dựa vào góc độ xem xét: Theo góc độ triết học, hoạt động được hiểu là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong mối quan hệ này, chủ thể đại diện là con người, còn khách thế là hiện thực khách quan.
Hoạt động được xem là quá trình mà có sự chuyển hoá lẫn nhau diễn ra giữa hai cực “chủ thế" và “khách thể”. Theo góc độ tâm lí học, hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới, đồng thời thể hiện mối quan hệ tích cực giữa con người và môi trường xung, qua đó làm biến đổi hoàn cảnh và biến đổi chính bản thân mình. Trong hoạt động có hai quá trình diễn ra đồng thời, bồ sung, thong nhất với nhau là quá trình đối tượng hoá (hay “xuất tâm") và quá trình chủ thể hoá (hay “nhập tâm"). Theo Từ điển Giáo dục, “hoạt động là hình thức biêu hiện quan trọng nhất của mối liên hệ tích cực, chủ động của con người đối với thực tiễn xung quanh”.
Hoạt động của con người bắt nguồn từ nhiều động cơ như sự thúc đẩy của nhu cầu, sự hứng thú, và các yếu tố tình cảm, với mục tiêu là đạt được những kết quả nhất định ttong cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, mặc dù mọi người có thể chung một mục tiêu, nhưng động cơ của họ có thề khác nhau. Hơn nữa, hoạt động yêu cầu sự kỹ năng trong việc sử dụng các công cụ và phương tiện ngôn ngữ, cũng như khả năng áp dụng tri thức chứa đựng trong ngôn ngữ. Trong quá trình phát triển của xã hội, hoạt động lao động đã phân hoá dưới hai hình thức là hoạt động chân tay và hoạt động trí óc, nhưng cả hai 7 9 Năng lực cá thê (ỉnduvidual competency)’.
Được hiêu là khả năng xác định được giới hạn của bản thân, có thể tự xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch để phát triển năng khiếu của bản thân cũng như chuẩn giá trị đạo đức và có khả năng chi phối hành vi. 'ì Mô hình câu trúc năng lực dưới đây có thê được cụ thê hóa trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Ngoài ra, trong mồi lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp người ta lại xây dựng các nhóm năng lực khác nhau. Chẳng hạn như năng lực của giáo viên sẽ bao gồm những nhóm năng lực cơ bàn sau: năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
Mô hình bốn thành phần năng lực trên cũng phù họp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESO. Mô hình bốn thành phần năng lực ứng với bổn trụ cột giáo dục của UNESO [16] 9 hình thức này đều gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì thế, để tham gia vào các hoạt động, con người cần phải có những năng lực nhất định, năng lực này một phần phụ thuộc vào tư chất bẩm sinh của con người, nhưng chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh, cụ thể là yếu tố giáo dục. Trong mọi hoạt động, việc xác định đối tượng là không thể thiếu, đối tượng của hoạt động là cái mà chủ thể tác động vào nhằm thay đổi hoặc chiếm lĩnh nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
Động cơ là yếu tố tất yếu được gắn với hoạt động, không động cơ không phải là hoạt động. Ví dụ, trong hoạt động học tập, đối tượng của hoạt động là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,. đáp ứng nhu cầu học tập của con người và là nguồn động cơ tích cực thúc đẩy quá trình học tập. Quan điểm hoạt động trong dạy học Hoạt động dạy học của giáo viên là một mặt cùa hoạt động sư phạm.
Quá trình dạy học là một quá trình điều khiển hoạt động và tương tác giữa hai chủ thể là giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Theo trích dẫn của Lê Văn Hong, Davydov viết: “Các hoạt động dạy - học là các hoạt động cùng nhau của thầy và trò" [9]. Đây là quá trình điều khiển con người nên chúng ta cần quan tâm đến cà các yếu tố về tâm lí của con người khi thực hiện những hoạt động trong việc dạy học. Hoạt động dạy và học cùa con người luôn luôn được đề cao và quan tâm đặc biệt.
Dạy học là dạy người, dạy cho họ có tri thức, có kĩ năng để sau này có thể đóng góp cho xã hội, và người thầy là nhân tố góp phần quan trọng trong sự thành công cùa mồi con người. Quan điểm hoạt động trong dạy học cơ bản dựa trên cơ sở triết học, tâm lí học nhận thức của L. Sau đây là một số cơ sở lý luận của quan điểm hoạt động và việc vận dụng quan điểm hoạt động trong dạy học môn Toán. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin về lí luận nhận thức, cơ sớ của 8 1.
Năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn 1. Lý luận về vấn đề thực tiễn Vấn đề thực tiễn trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống luôn là một khí a cạnh quan trọng cần được tiếp cận một cách nghiêm túc và có hệ thống. Điều này không chỉ giúp chúng ta hiểu được bản chất của hiện tượng, sự kiện đang xảy ra mà còn là cơ sở đế đưa ra các quyết định, giải pháp hành động hiệu quả. Trong tiếp cận này, lý luận có vai trò vô cùng quan trọng làm cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, giúp chúng ta ứng dụng các nguyên lý, khái niệm một cách linh hoạt vào thực tế.
Theo Marx, một trong những nhà lý luận và triết học vĩ đại, “Thực tiền là tiêu chuãìỉ cuối cùng của sự thật” (Marx và Engels, 1845/1976), ông nhấn mạnh rằng tri thức phải được kiểm chứng thông qua thực tiễn. Điều này cho thấy, việc hiểu và giải quyết các vấn đề thực tế không chỉ dựa vào lý thuyết mà còn phải sử dụng phương pháp khoa học, áp dụng thực nghiệm để kiểm nghiệm sự thích hợp của lý thuyết đó. Trong quá trình tiếp cận và giải quyết vấn đề thực tiễn, một khía cạnh quan trọng khác đó là tính năng động của thực tiễn và sự phát triển cùa khoa học công nghệ. Thực tiễn luôn thay đồi theo thời gian, đòi hỏi lý luận phải liên tục được cập nhật, điều chỉnh để phản ánh một cách chính xác và toàn diện nhất.
John Dewey, một triết gia, tâm lý học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, đã từng nói, “Neu chủng ta dạy ngày nay như chúng ta dạy ngày hỏm qua, chúng ta phản bội lại những người hôm nay” (Dewey, 1944). Câu nói này mở rộng ý tưởng cho thấy sự tiến hóa, phát triến không ngừng của thực tiễn và yêu cầu cập nhật liên tục trong lỷ luận. Việc ứng dụng lý luận vào thực tiễn không chỉ gói gọn trong việc áp dụng các nguyên tắc đã có mà còn mở ra hướng đi mới, sáng tạo cho việc giải quyết 10 nhận thức là những hoạt động. Hoạt động là phương tiện đê sản sinh, phát triển và định vị băn thân con người.
Từ đó, dẫn tới một phương hướng tổ chức dạy học hiện đại: dạy học sinh hành động sáng tạo để qua đó hiểu và cải tạo thế giới. Cơ sở này nhấn mạnh vai trò quan trọng cùa giáo viên, người có trách nhiệm tố chức các hoạt động giáo dục để học sinh có cơ hội tiếp cận và nắm bắt kiến thức thông qua sự tương tác và thực hành. Theo Tâm lí học, những nghiên cứu về Học thuyết phát triển của L.Vygotsky, Lí thuyết hoạt động của A. Leonchev chính là cơ sở tâm lí học cho việc xác định quan điếm hoạt động trong dạy học.Vygotsky [22] đã đưa ra lí thuyết về vùng phát triển gần (ZPD - Zone of Proximal Development), tạo cơ sở khoa học cho dạy học tương tác và dạy học phát triển,.
Quá trình dạy học chính là sự hợp tác giữa người dạy và người học thông qua hai hoạt động là hoạt động dạy và hoạt động học. Giáo viên sẽ thiết kế những tình huống dạy học để tương tác với học sinh bằng những hoạt động trong vùng phát triển gần nhất của học sinh, từ đó giúp học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức, hình thành và rèn luyện kĩ năng. Theo Nguyễn Bá Kim, "Hoạt động của học sinh là cốt lõi của phương pháp dạy học” [12; tr. Cơ sở khoa học của quan điểm hoạt động bao gồm hai luận điểm cơ bản sau: - Mỗi nội dung môn Toán đều gắn với các hoạt động thành phần bao gồm quá trình hình thành và quá trình vận dụng nội dung đó.
Các hoạt động đó được gọi là các hoạt động tương thích với nội dung. - Phát hiện, lựa chọn, hướng dẫn và tố chức cho học sinh thực hiện các hoạt động thành phần tương thích với nội dung là con đường hợp lí nhất và hiệu quả nhất để tổ chức dạy học nhằm đáp ứng các mục tiêu dạy học. Vận dụng quan điểm hoạt động trong dạy học môn Toán Dạy học theo quan điểm hoạt động hay vận dụng quan điểm hoạt động trong dạy học là quá trình dạy học có những đặc trưng cơ bản sau: 9 vấn đề. Đây là quá trình sáng tạo, không ngừng tìm tòi, học hỏi từ thực tiễn để phát triển, hoàn thiện lý luận sao cho phù họp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
Vấn đề thực tiễn và việc tiếp cận, giải quyết chúng thông qua lý luận tạo ra một quá trình tương tác hai chiều, không chỉ giúp kiểm nghiệm, phát triển lý luận mà còn mang lại giải pháp thiết thực, hiệu quả cho thực tế. Điều này đòi hỏi một tư duy phê phán sâu sắc, linh hoạt và một cách tiếp cận khoa học. Đe đạt được điều này, cần có một quá trình đào tạo và nghiên cứu không ngừng nghỉ, nhằm nắm bắt, phân tích và ứng dụng các thuật ngữ, lý thuyết một cách chính xác vào thực tiễn. Một phần không thể thiếu trong quá trình này là việc thẩm định, đánh giá các kết quả thực tiễn thu được tù việc áp dụng lý thuyết, qua đó điều chỉnh lý luận cho phù hợp.
Là một quá trình động, việc cân nhắc giừa lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải dựa trên cơ sở dữ liệu đáng tin cậy, phân tích sâu sắc và một tiếp cận hệ thống. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề thực tiễn không chỉ gói gọn trong phạm vi quốc gia mà còn vươn ra tầm thế giới.