CHƯƠNG 1: KHOA HOC LUAN VA PHAN TICH KHOA HOC LUAN LICH SU I. Về thuật ngữ Khoa học luận L1. Nguồn gốc Thuật ngữ Khoa học luận chỉ mới xuất hiện ở thế kỷ 19, được cấu tạo từ hai gốc Hy lạp épistèmè (khoa học) và logo (nghiên cứu về). Trong Vocabulaire technique et critique de la Phylosophie của Lalande (đầu thế kỷ 20), ta tìm thấy định nghĩa sau đây: "Từ này chỉ triết học của các khoa học nhưng với nghĩa rõ hơn một chút.
Nó không phải là một nghiên cứu về các phương pháp khoa học - đó là đối tượng của Phương pháp luận và là một phần của Logic học. Nó cũng không phải là một sự tổng hợp hay tiên đoán các luật khoa học. Về cơ bản, khoa học luận là một nghiên cứu mang tính phê phán những nguyên lý, những giả thuyết và những kết quả của các khoa học khác nhau, nhằm xác định nguồn gốc logic (chứ không phải là nguồn gốc tâm lý), giá trị và ảnh hưởng khách quan của chúng." Như thế, Khoa học luận xuất hiện như là một bộ phận của Triết học các khoa học. Vậy thì Khoa học luận và Triết học các khoa học được phân biệt với nhau ở chỗ nào? Như J - L.
Dorrier (1996) đã chỉ ra, Triết học của các khoa học hướng đến việc vạch rõ đặc trưng của những đối tượng gắn liền với tri thức khoa học và xác định tính hợp thức của tri thức. Nói cách khác, hai mục đích dường như không thể tách biệt của Triết học các khoa học là: - nghiên cứu những đặc trưng của tri thức (nhà bác học nói về cái gì, và nói như thế nào về cái đó?) - nghiên cứu tính thực tiễn khoa học của một đối tượng tri thức (chân lý khoa học là gì? có chân lý khoa học với điều kiện nào có thể nói về chân lý khoa học trong những giới hạn nào?) Theo nghĩa hẹp thì Khoa học luận được giới hạn ở mục đích đầu tiên, nghĩa là nó nghiên cứu những điều kiện cho phép sản sinh ra các kiến thức khoa học, quá trình hình thành và phát triển của các kiến thức đó. Các trào lưu khác nhau Cùng với thời gian, nghĩa của thuật ngữ Khoa học luận đã tiến triển, được mở rộng và trở nên đa dang hon nhiéu. Drouin (1991) đã phân biệt bốn trào lưu khoa học luận khác nhau, trong đó, do mục đích nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hai trào lưu: * Khoa học luận lịch sử: nghiên cứu quá khứ đề khám phá ra quá trình hình thành nên một tri thức (những vấn đề gắn liên với nó, những trở ngại, những bước nhảy quan niệm cho phép tri thức nảy sinh, v.) » Khoa học luận phát sinh: nghiên cứu các đặc trưng của tri thức khoa học và thử tìm lại những đặc trưng đó trong sự phát sinh tri thức ở trẻ em thông qua quan sát.
Như thế, khoa học luận phát sinh quan tâm đến sự phát triển kiến thức ở cá thể, nghiên cứu quá trình xây dựng những kiến thức "chấp nhận được" và bước chuyên từ tình trạng tháp đến tình trạng kiến thức tăng vọt. Cách tiếp cận này (của Piaget) đã tách khoa học luận ra khỏi triết học, tạo nên một khoa học nhân văn và thực nghiệm Giữa khoa học luận lịch sử và khoa học luận phát sinh có một quan điểm chung: sự phát sinh tri thức là một quá trình gồm nhiều giai đoạn. Khoa hoc luan trong didactic toán Những gì đã trình bày ở trên cho ta thay thuật ngữ khoa học luận đã được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau. Vậy thuật ngữ này được hiểu như thế nào trong các nghiên cứu về hoạt động dạy và học toán? Trả lời cho câu hỏi này, J-L.
Dorrier nói: trong didactic' ta quan tâm đến Khoa học luận theo nghĩa nó nghiên cứu những điều kiện sản sinh ra các tri thức khoa học, giúp ta hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa việc xây dựng tri thức trong cộng đồng các nhà bác học với việc dạy va hoc tri thirc nay (J-L. Như vậy, khoa học luận nghiên cứu những điều kiện cho phép nảy sinh trí thức khoa học, quan tâm đến sự tiến triển của các tri thức shay kiến thức. Ở đây thuật ngữ riến triển được hiểu theo nghĩa rộng: nó có thê liên quan đến sự biến đổi tình trạng kiến thức của một hệ thống, một thê chế hay một cá thê. Hơn thế, nó chú ý không chỉ đến những tư tưởng tiến bộ mà còn đến cả những trì trệ, những bước lùi.
Các thuật ngữ ri /hức và kiến thức thì được hiểu theo nghĩa chủng loại: một kiến thức gắn liền với một cá thể, thể hiện qua những hoạt động trong một lớp tình huống xác định, và chỉ có thể trở thành tri thức sau khi đã được phi cá nhân hóa, phi ngữ cảnh hóa. Cách hiểu này nhắn mạnh tính chất động cũng như chế độ nhiều thể chế của kiến thức và tri thức, hơn thế nữa, nó có thê thích hợp ở tất cả những nơi mà kiến thức hay tri thức đang trên đường xây dựng, tiến triển hoặc biến đổi. Thừa nhận quan điểmcủa Dorrier J-L., chúng tôi định nghĩa: Phân tích khoa học luận một tri thức là nghiên cứu lịch sử hình thành tri đó nhằm vạch rõ: - nghĩa của tri thức, những bài toán, những vấn đề mà tri thức đó cho phép giải quyết; - những trở ngại cho sự hình thành tri thức ; ' "Didactic" 1a cách viết phiên âm của didactícs trong tiếng anh và didactique trong tiếng pháp. Tùy theo ngữ cảnh, thuật ngữ này có thể được hiểu theo những nghĩa khác nhau.
Trong câu trên, nó có thể được dịch sang tiếng Việt là lý luận dạy-học. Didactic toán có nghĩa là lý luận dạy-học môn toán. - những bước nhảy trong quan niệm, những điều kiện sản sinh ra tri thức; - những quan niệm cóthê gắn liền với tri thức. - Phân tích khoa học luận sẽ giúp ta hiểu rõ mối liên hệ giữa quá trình xây dựng tri thức trong cộng đồng khoa học với việc dạy và học tri thức này.
Khoa học luận, lịch sử và phân tích khoa học luận lịch sử của một khoa học. Cách hiểu trên về thuật ngữ khoa học luận khá gần gũi với trào lưu khoa học luận lich sử. Nó dẫn đến chỗ thừa nhận mối liên hệ khăng khít giữa khoa học luận với lịch sử các khoa học. Thoạt nhìn, có thể cho rằng Lịch sử các khoa học chỉ giới hạn ở việc liệt kê các sự kiện khoa học, cùng lắm là vạch ra những triển vọng thông qua tư tưởng tổng quát ở từng thời đại.
Nhưng cách nhìn này quá hạn hẹp, như G. Canghuilhem đã nhắn mạnh: "Lịch sử của một khoa học không phải là bộ sưu tập đơn giản các tiểu sử, lại càng không phải là bảng niên đại được tô điểm bởi những giai thoại. Nó phải là lịch sử của sự hình thành, sự biến dạng, sự chỉnh lý các khái niệm khoa học”. Nghiên cứu lịch sử một khoa học không đơn giản chỉ là mô tả các sự kiện, mà còn phải xem xét tính gan bó nội tại chặt chẽ thể hiện qua những khái niệm, những vẫn đề đưa lại nghĩa cho khoa học đó.
Theo quan niệm này thì Lịch sử một khoa học không thể tách rời khỏi những câu hỏi có tính khoa học luận. Như thế, nghiên cứu lịch sử của một khoa học có mối liên hệ chặt chẽ với phân tích khoa học luận về khoa học đó. Thậm chí, theo J-L. Dorler (1997), nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu khoa học luận không thể tách rời nhau, chúng chỉ có thê thiên về phía lịch sử hay về phía khoa học luận nhiều hơn mà thôi.
Tuy nhiên, Khoa học luận và Lịch sử các khoa học không đồng nhất với nhau. Bachelard phân biệt hai đối tượng này qua những ý kiến sau: » "Nhà lịch sử xem các tư tưởng như là những sự kiện. Nhà khoa học luận thì lại năm lấy các sự kiện như là những tư tưởng bằng cách lồng chúng vào trong một hệ thống tư duy." * "Lo lắng về tính khách quan, nhà lịch sử ghi vào danh mục mọi tư liệu, không đi đến chỗ đo được những biến đổi nhận thức trong sự giải thích cho cùng một bản văn. Thực ra thì ở cùng một thời đại, dưới cùng một từ, có thể có những khái niệm khác nhau biết.
Cái làm cho ta có thể nhằm lẫn chính là ở chỗ một từ được dùng đồng thời vừa đề chỉ định vừa để giải thích. Tên gọi là một, nhưng cách giải thích thì lại khác nhau.] Nhà khoa học luận phải cố gắng năm bắt khái niệm khoa học trong quá trình tiến triển, bằng cách thiết lập các bậc thang quan niệm về mỗi khái niệm, chỉ rõ nó được hình thành như thế nào và có liên hệ ra sao với những khái niệm khác." Dé minh hoa ý kiến này, chúng tôi lấy thuật ngữ "phép biến hình" làm ví dụ. Như sẽ phân tích rõ ở chương 3, trong một nghiên cứu khoa học luận lịch sử hình thành khái niệm "phép biến hình", thuật ngữ này được lấy những nghĩa khác nhau ở những giai đoạn khác nhau. Chắng hạn, vào cuối thế kỷ 16, phép biến hình chưa được định nghĩa, chỉ được mô tả qua kết quả tác động của nó lên một đối tượng hình học.
Ở giai đoạn này người ta xem xét các hình hình học trong tổng thê về hình dạng, kích thước, không nhìn nó như một tập hợp điểm, và phép biến hình được hiểu là một phép là biến đồi hình-, được sử dụng như một công cụ ngầm ẩn đề chuyên các tính chất hình học từ hình này sang hình kia, mà người ta cũng chỉ dùng nó trong nghiên cứu về các đường conic. Cách hiểu này cho phép chuyên một số tính chất hình học của đường tròn vào các đường cônic ảnh, có nghĩa là từ tính chất của đường tròn mà suy ra tính chất của đường cônic, không cần một phép chứng minh mới. Đến thế kỷ 18, mặc dầu được sử dụng ở một góc độ khác, khái niệm phép biến hình vẫn chưa được định nghĩa. Người ta đưa vào từ “phép biến đổi hình” như một thuật ngữ được mô tả chứ không phải như một đối tượng của toán học.
Sang thế kỷ 19, phép biến hình mới được hiểu theo nghĩa ánh xạ trong không gian vào chính nó, và ở đây không gian được xem xét với tư cách là một tập hợp điểm. * Dé phân biệt phân tích khoa học luận với nghiên cứu lịch sử một khoa học, Bachelard còn nói đến những chướng ngại: "Một sự kiện được hiểu không đúng ở một thời đại chỉ là một sự kiện đối với nhà lịch sử, nhưng lại có thể là một chướng ngại hay một ý tưởng đối lập theo cách nhìn của nhà khoa học luận.