MỞ ĐẦU 1. Lý do thực hiện đề tài Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng ở các khía cạnh kinh tế - xã hội – an ninh – chính trị của khu vực nông thôn, Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đã có những chính sách và giải pháp cụ thể để tái đầu tƣ vào khu vực nông thôn và thúc đẩy phát triển nông thôn. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ƣơng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khẳng định vai trò, vị trí của khu vực nông thôn trong tiến trình phát triển và định hƣớng các chiến lƣợc phát triển cho khu vực nông thôn đến năm 2020. Nhằm thí điểm thực tiễn, tạo cơ sở cho chỉ đạo xây dựng NTM, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng đã ban hành Quyết định số 205-QĐ/TW ngày 30 tháng 12 năm 2008 về việc thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm chƣơng trình xây dựng NTM.
Ban Chỉ đạo đã xây dựng đề án 11 xã (Thanh Chăn (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), Tân Thịnh (Lạng Giang - Bắc Giang), Hải Đƣờng (Hải Hậu - Nam Định), Gia Phổ (Hƣơng Khê - Hà Tĩnh), Tam Phƣớc (Phú Ninh - Quảng Nam), Tân Hội (Đức Trọng - Lâm Đồng), Tân Lập (Đồng Phú - Bình Phƣớc), Định Hòa (Gò Quao - Kiên Giang), Mỹ Long Nam (Cầu Ngang - Trà Vinh), Tân Thông Hội (Củ Chi - TP Hồ Chí Minh) và Thụy Hƣơng (Chƣơng Mỹ - Hà Nội) đƣợc chọn thí điểm xây dựng mô hình NTM đại diện cho các vùng kinh tế-văn hóa trên cả nƣớc xây dựng thí điểm mô hình NTM. Tiếp theo đó Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, bao gồm 19 tiêu chí; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020. Chính phủ cũng thành lập Ban Chỉ đạo trung ƣơng Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM. Huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã chính thức ban hành và triển khai thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 01/12/2011 về thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020.
Sau 5 năm phát động chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông 2 thôn mới, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân, đến nay Thăng Bình đã có 6 xã đạt chuẩn NTM đƣợc UBND Tỉnh công nhận. Điều quan trọng hơn là từ khi triển khai chƣơng trình mục tiêu quốc gia về XDNTM đến nay, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã đƣợc nâng lên đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua từng năm, kết cấu hạ tầng nông thôn nhƣ điện, đƣờng, trƣờng, trạm đƣợc đầu tƣ xây dựng khang trang, bộ mặt nông thôn đã có nhiều khởi sắc… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả rất quan trọng đã đạt đƣợc, việc thực hiện Chƣơng trình của huyện Thăng Bình trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế: Tiến độ triển khai còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu; nhận thức của một bộ phận cán bộ đảng viên và ngƣời dân về những nội dung thiết yếu của Chƣơng trình chƣa đầy đủ, việc quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ở một số xã chƣa thƣờng xuyên, sâu sát; các nội dung về phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng đời sống văn hóa, bảo vệ môi trƣờng chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Nhiều xã đã chú trọng thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới, nhƣng chƣa chú trọng đúng mức thực hiện các nội dung ở cấp thôn và hộ gia đình; một số cơ chế, chính sách, không phù hợp, chậm đƣợc bổ sung điều chỉnh, sửa đổi; còn có sự chênh lệch lớn về kết quả thực hiện giữa các vùng, miền. Nguồn lực Trung ƣơng và huy động nguồn lực xã hội cho Chƣơng trình còn thấp nhiều so với yêu cầu thực tế, một số xã chạy theo thành tích nên có biểu hiện huy động quá sức dân, nợ đọng xây dựng cơ bản không có khả năng trả, hoặc khi đánh giá chất lƣợng tiêu chí còn xuê xoa; việc triển khai và vận dụng khi xây dựng các tiêu chí ở một số xã còn máy móc, kém hiệu quả, thậm chí gây lãng phí nguồn lực; chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tƣ vào nông nghiệp, nông thôn chậm phát huy hiệu quả nhƣ mong đợi.
Từ những hạn chế trên, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu đánh giá, khảo sát thực tiễn, tìm ra giải pháp cụ thể để đẩy nhanh quá trình xây dựng, thực hiện hiệu quả, và phải có sự bền vững của chƣơng trình xây nông thôn mới tại huyện Thăng Bình. Vì vậy tác giả chọn đề tài “Đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015 – 2025” làm luận văn thạc sĩ kinh tế. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng của quá trình xây dựng nông thôn mới của huyện Thăng Bình giai đoạn 2011 - 2015, trên cơ sở đó rút ra những thành tựu, hạn chế, yếu kém và chỉ rõ những vấn đề cần giải quyết. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới của huyện.
Để thực hiện mục tiêu này, đề tài đặt ra các mục tiêu cụ thể, bao gồm: - Tổng hợp cơ sở lý luận về phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới; - Nghiên cứu thực trạng xây dựng nông thôn mới của huyện Thăng Bình; - Đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới của các xã thuộc huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016 - 2025. Tổng quan nghiên cứu Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về thành phần tộc ngƣời, về văn hóa, là nơi bảo tồn, lƣu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, là nơi sản xuất quan trọng, làm ra các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống con ngƣời. Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nƣớc công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới đƣợc Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam cho là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc và là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nƣớc.
Liên quan đến đề tài đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới, đã có nhiều công trình khoa học, giáo trình, sách tham khảo, các luận văn, các bài báo, tạp chí đề cập nhiều góc độ khác nhau. Đề cập đến vấn đề này có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nƣớc, điển hình là: Dower (2001) đƣa ra định nghĩa “phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trƣờng nhằm nâng cao chất lƣợng đời sống của ngƣời dân địa phƣơng”. Tiếp cận của Dower về phát triển nông thôn là toàn diện; Dựa vào cộng đồng và bền vững. Phát triển nông thôn toàn 4 diện có ý nghĩa là: 1) cần nhấn mạnh vào khía cạnh xã hội-kinh tế và môi trƣờng; 2) phát triển phải là cả “từ trên xuống” và “từ dƣới lên” có nghĩa là phải bao trùm chính sách, tiền tệ và hỗ trợ của chính phủ (ở mọi cấp) và năng lực, tài nguyên và sự tham gia của ngƣời dân; 3) phải có sự tham gia của mọi khu vực (nhà nƣớc, tƣ nhân, tình nguyện viên); và 4) phải dựa trên tinh thần hợp tác và cộng tác.
Ladinis (2006) cho rằng quan điểm mới về phát triển nông thôn của cộng đồng Châu Âu thể hiện ở ba mục tiêu: 1) cải thiện năng lực cạnh tranh của nông lâm nghiệp bằng cách hỗ trợ tái cấu trúc, phát triển và đổi mới; 2) cải thiện môi trƣờng và cảnh quan nông thôn thông qua việc hỗ trợ quản lý đất đai; và 3) cải thiện chất lƣợng đời sống nông thôn và khuyến khích đa dạng hóa các hoạt động kinh tế. Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế OECD (United Nations, 2007) cho rằng phát triển nông thôn có ba phƣơng diện: lãnh thổ, chủ đề phát triển và thời gian. Về phƣơng diện lãnh thổ, phát triển nông thôn là một khái niệm không gian. Mỗi vùng lãnh thổ có sự khác biệt về các vấn đề khó khăn triển vọng cơ hội và các mục ƣu tiên phát triển.
Về phƣơng diện chủ đề phát triển, phát triển nông thôn là một khái niệm đa ngành. Khái niệm này liên quan đến các vấn đề nhân khẩu học, kinh tế, xã hội và môi trƣờng, và vì vậy, nhấn mạnh tầm quan trọng của tính tổng hợp theo chiều ngang, phối hợp giữa các ngành của các hoạt động và chính sách. Về phƣơng diện thời gian, phát triển nông thôn là một khái niệm mang tính động. Vì vậy nó phải đƣợc hiểu trong một tiến trình trung hạn và dài hạn mang tính động về lịch sử và đƣợc phản ánh ở các khía cạnh thay đổi công nghệ, kinh tế và xã hội.
Cuốn sách “Chính sách nông nghiệp trong các nƣớc đang phát triển” của Frans Elltis đã nêu lên những vấn đề cở bản của chính sách nông nghiệp ở các nƣớc đang phát triển thông qua việc nghiên cứu lý thuyết, khảo sát thực tiễn ở nhiều quốc gia châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh. Cuốn sách đã đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thƣơng mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa. Điều đặc biệt đáng lƣu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của các nƣớc đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với 5 phát triển thƣơng mại nông sản trên thế giới; đồng thời nêu lên mô hình thành công, thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân. Theo Nimal (2008) thành quả của phát triển nông thôn là rất rõ ràng đối với các quốc gia Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á trong mấy thập kỷ vừa qua.